Xu Hướng 2/2023 # Tranh Cổ Động Việt Nam Sau Đổi Mới Từ Góc Nhìn Văn Hóa – Là Đề Tài Cấp Bộ, Nghiệm Thu Đạt Loại Xuất Sắc # Top 9 View | Uta.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tranh Cổ Động Việt Nam Sau Đổi Mới Từ Góc Nhìn Văn Hóa – Là Đề Tài Cấp Bộ, Nghiệm Thu Đạt Loại Xuất Sắc # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Tranh Cổ Động Việt Nam Sau Đổi Mới Từ Góc Nhìn Văn Hóa – Là Đề Tài Cấp Bộ, Nghiệm Thu Đạt Loại Xuất Sắc được cập nhật mới nhất trên website Uta.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tranh cổ động là loại tranh đồ họa được sáng tạo để phục vụ cho mục đích chính trị, xã hội cụ thể, gần gũi với đời sống người dân. Tranh cổ động có đặc trưng nghệ thuật riêng, có ý tưởng nội dung cô đọng, hình ảnh xúc tích, dễ hiểu cùng với những khẩu hiệu, câu chữ ngắn gọn, mang tính thời sự. Tranh cổ động Việt Nam từ những năm 1945 đến 1975 đã đánh dấu mốc lớn cho sự thành công về nghệ thuật đồ họa cũng như hoàn thành nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền đấu tranh cách mạng, vận động, cổ vũ, giáo dục quần chúng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng XHCN ở miền Bắc… Tranh cổ động trong giai đoạn này là minh chứng cho khả năng sáng tạo của các họa sĩ đã truyền tải thành công các nội dung tuyên truyền bằng ngôn ngữ đồ họa đến các tầng lớp nhân dân trong những thời điểm/giai đoạn lịch sử.

Trước những thực trạng nêu trên, đề tài “Tranh cổ động Việt Nam sau Đổi mới từ góc nhìn văn hóa” được thực hiện là cần thiết và có tính thực tiễn cấp bách. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu chính của đề tài được thể hiện ở bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về tranh cổ động. Trong chương này, các tác giả đã tổng quan tình hình nghiên cứu tranh cổ động trong nước và nước ngoài; cơ sở lý luận, các khái niệm và lý thuyết nghiên cứu…

Tranh cổ động còn được gọi là tranh tuyên truyền trực quan, trực tiếp thông qua thị giác, người xem tiếp nhận được các thông tin từ ngôn ngữ hình thể, màu sắc, chữ và số cũng như các phương tiện truyền thông thị giác khác. Tranh cổ động được xếp vào dòng tranh nghệ thuật truyền đạt các thông tin qua các chỉ dấu, hình tượng, biểu tượng nghệ thuật. Người sáng tác phải đưa những ý tưởng, cảm hứng sáng tạo… vào tranh để đạt đến những thẩm mỹ về nghệ thuật. Người xem thông qua ngôn ngữ tạo hình, bên cạnh việc tiếp nhận thông tin, còn có các hàm nghĩa khác tạo nên xúc cảm thụ nghệ thuật từ những bức tranh cổ động có chất lượng cao. Sự biểu đạt hướng đến nhận thức về nghệ thuật, tạo cho người xem những xúc cảm trước hệ thống ký hiệu biểu đạt bao gồm cảm xúc thị giác với cái đẹp của hình thể màu sắc, cảm xúc với sự liên tưởng từ ký ức do tác động của các hình tượng, biểu tượng…

Có thể thấy: Tranh cổ động đã được xác định nhiệm vụ tuyên truyền bắt kịp với các vấn đề chính trị và xã hội trong từng thời điểm/giai đoạn. Vì vậy, những nội dung được thể hiện trong tranh cổ động đều theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước. Nó thể hiện nhưng quan điểm, chính sách, diễn ngôn mà mỗi thời kỳ đại hội Đảng đề ra. Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của tranh cổ động phục vụ chính trị ở Việt Nam trước 1986 có thể thấy được nội dung chính trị một cách rõ ràng, cho dù nội dung đó được thể hiện một cách trực tiếp, đi thẳng vào vấn để hoặc tinh tế, gián tiếp, ẩn sâu vào những hình ảnh nêu ra trong tranh. Các đề tài chủ yếu thường được thể hiện trong tranh cổ động chính trị như: đường lối, mục tiêu chính trị, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, đoàn kết dân tộc, lãnh tụ, lời kêu gọi hành động cụ thể. Từ sau đại hội VI của Đảng, tranh cổ động chính trị vẫn tiếp tục được phát huy và mở rộng bởi những cuộc thi vẽ tranh do các cơ quan nhà nước tổ chức.

Chương 3:  Ngôn ngữ đồ họa và sự biểu đạt của tranh cổ động từ sau Đổi mới đến nay.

Trong chương 3, các tác giả đúc kết lại những đặc trưng trong ngôn ngữ tạo hình của tranh cổ động để làm rõ hơn những kỹ thuật, thủ pháp của ngôn ngữ tạo hình mà người họa sĩ đã kết hợp giữa mỹ thuật truyền thống và sự sáng tạo cái mới. chúng tôi tập hợp lại những hình tượng, biểu tượng và ý nghĩa trong bảng màu thường xuyên được thể hiện trong tranh cổ động giai đoạn trước năm 1986 và nối tiếp ở giai đoạn sau. Bên cạnh đó, kỹ thuật sáng tác, thể hiện tranh cổ động bằng những chương trình đồ họa máy tính cũng đã tạo nên những sự khác biệt so với tranh cổ động giai đoạn trước năm 1986. Cách thức thể hiện này đã giúp sự biểu đạt của tranh cổ động được công chúng tiếp nhận dễ dàng và luận giải nghĩa…

Chương 4: Những thực hành ý nghĩa biểu đạt và chức năng truyền thông thị giác của tranh cổ động sau đổi mới.

Chương 4 đã tập trung đi sâu phân tích những thực hành biểu đạt của tranh cổ động trong đời sống, đó là sự tiếp nhận của người dân với những nội dung tuyên truyền của tranh cổ động chính trị và xã hội, quan điểm sáng tác của họa sĩ vẽ tranh cổ động biểu đạt sao cho hàm nghĩa của tranh cổ động được truyền tải thông tin một cách dễ hiểu, có sức thu hút thị giác nhưng vẫn theo những qui chuẩn về hình thể, vị trí các biểu tượng chính trị. Những thực hành về ý nghĩa biểu đạt của tranh cổ động đã thể hiện tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và kêu gọi, cổ vũ khối đại đoàn kết liên minh công, nông, tri thức, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Bên cạnh đó, vai trò truyền thông thị giác của tranh cổ động cũng đã thể hiện được sức mạnh trong ý nghĩa biểu đạt của hệ thống ngôn ngữ ký hiệu đặc thù mà hình thức giao tiếp qua thị giác sẽ mang lại những ghi nhận thông tin với cảm xúc, dễ nhớ.

Đề tài đã sử dụng lý thuyết ký hiệu học của R.Barthes để giải mã hệ thống ký hiệu siêu ngôn ngữ/ký hiệu biểu tượng. Phân tích tranh cổ động sau đổi mới trong quan hệ giữa cái biểu đạt/ngôn ngữ đồ họa và cái được biểu đạt/nội dung bức tranh tạo ra ý nghĩa và triển khai thành hệ thống mới là ý nghĩa biểu đạt/hàm nghĩa của văn bản. Hệ thống ký hiệu ngôn ngữ đồ họa của tranh cổ động mang ý nghĩa biểu đạt trong các tạo hình, bao gồm bố cục, đường nét, hình thể, màu sắc, không gian… hệ thống ký hiệu hình tượng, biểu tượng và đặc trưng của màu sắc trong tranh vừa kết nối truyền thống, tâm lý nghệ thuật của người Việt vừa mở ra những ý nghĩa mang tính chính trị, xã hội. Cách khai thác tạo hình, màu sắc, không gian từ nghệ thuật truyền thống sẽ luôn đem lại sự gần gũi, dễ nhận biết đối với người dân.

Thực hành biểu đạt của tranh cổ động không chỉ diễn ra trong những hoạt động tạo ra ý nghĩa mà còn là những hàm nghĩa trong hệ thống ký hiệu ngôn ngữ biểu tượng, hình tượng được thể hiện trên tranh. Phân tích tranh cổ động như những văn bản với ý nghĩa biểu đạt cũng đã cho thấy sự đa dạng văn hóa của nước ta: những biến đổi văn hóa trong hai giai đoạn trước và sau năm 1986 được thể hiện trong những quan điểm sáng tác của họa sĩ, hàm nghĩa về hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua các biểu tượng chính trị, cách biểu đạt bố cục thay đổi cùng những câu khẩu hiệu khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Những biểu đạt văn hóa qua tranh cổ động đã thể hiện quyền lực mềm của Nhà nước Việt Nam, cổ vũ người dân đoàn kết, đồng lòng theo Đảng.

Chức năng truyền thông thị giác của tranh cổ động khi dòng tranh này thường xuyên xuất hiện trên đường phố, ở những không gian công cộng để tham gia cùng với những hệ thống truyền thông khác của Nhà nước. Sức mạnh truyền thông của tranh cổ động chính là ngôn ngữ biểu đạt đặc thù, nó không như những bài báo viết hay báo hình… mà nó là những bố cục hình, màu, nhịp điệu, không gian, biểu tượng… thu hút thị giác của người dân. Nó tạo nên những xúc cảm thị giác, tác động đến nhận thức về tâm lý thẩm mỹ nghệ thuật, người xem có thể nhận thấy hoặc không nhận thấy những tác động của ngôn ngữ tạo hình nhưng nó được ghi lại trong trí nhớ của mỗi người và những câu khẩu hiệu tham gia trong bố cục của các bức tranh này đã nhắc nhở, khuyến khích mỗi người dân trong các hoạt động chung của toàn xã hội.

Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo, cung cấp thêm luận cứ khoa học cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và giảng dạy. Dự kiến đề tài sẽ được in thành sách và ra mắt bạn đọc trong thời gian tới./.  

PV.

 

Kinh Nghiệm Quốc Tế Và Các Đề Xuất Sửa Đổi Khung Pháp Lý Về Định Giá Rừng Tại Việt Nam

Báo cáo ch ra r ng Lu t BV&PTR 2004 l n d u tiên dua ra các khái ni m v giá r ng, giá tr quy n s d ng r ng, quy n s h u r ng và giá r ng. Tuy nhiên, khái ni m v giá r ng d a trên giá tr quy n s d ng r ng, quy n s h u r ng là khái ni m h p và ch bao g m các l i ích tr c ti p t vi c s d ng lâm s n theo quy d nh hi n hành. Khái ni m này chua ti p c n theo quan di m t ng giá tr kinh t c a r ng, do dó các giá tr d ch v môi tru ng r ng chua du c d c p trong giá r ng. Ngoài ra t ch c th c hi n và giám sát d nh giá r ng chua du c quan tâm dúng m c c c p trung uong và d a phuong. Vi c áp d ng khung giá r ng do t nh dua ra cung g p nhi u khó khan bao g m: (1) khung giá du c ban hành không th hi n du c giá tr c a r ng t i th i di m ban hành do vi c ban hành van b n thu ng ra ch m t 1-2 nam so v i báo cáo d xu t khung giá; (2) các co quan áp d ng tính giá r ng d a trên các d nh m c v giá do S tài chính dua ra và chua ph n ánh th tru ng; (3) nang l c th c hi n d nh giá r ng còn h n ch d a phuong và (4) khung giá r ng ch y u du c hình thành thông qua các co quan qu n lý Nhà nu c, do dó giá r ng có th s không ph n ánh dúng quy lu t th tru ng.

Báo cáo cung d xu t r ng l ng ghép d nh giá d ch v môi tru ng r ng trong chính sách lâm nghi p c n d a trên 4 nguyên t c chính: (i) Các d ch v môi tru ng c n du c dánh giá thông qua góc nhìn da m c dích và v i c giá tr t g và ngoài g và trong b i c nh s dóng góp c a r ng và các ngành lâm nghi p d tang tru ng xanh (ii) d nh giá d ch v môi tru ng r ng c n ph i du c g n vào các chính sách lâm nghi p d khuy n khích vi c s d ng r ng da m c dích và các ch r ng c n du c khuy n khích ho c th m chí d n bù d cung c p và d m b o vi c s d ng r ng da m c dích; (iii) d nh giá d ch v môi tru ng c n du c d a trên c phuong pháp tính toán khoa h c và tham v n c ng d ng v vai trò và tác d ng c a d ch v môi tru ng d n vi c s d ng d t hi n t i và tuong lai cung nhu sinh k d a phuong (iv) vi c xem xét s hài hòa gi a các d ch v môi tru ng khác nhau quan tr ng hon dánh giá kinh t c a t ng d ch v don l .

Nét Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam

22/05/2019

Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống. Đối với nhiều dân tộc, quốc gia, ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn hóa về tinh thần. Qua ẩm thực người ta có thể hiểu được nét văn hóa thể hiện phẩm giá con người, trình độ văn hóa của dân tộc với những đạo lý, phép tắc, phong tục trong cách ăn uống…

Và mỗi khi nhắc đến đất nước Việt Nam xinh đẹp thì ẩm thực luôn là một đề tài thú vị. Ẩm thực của người Việt không chỉ là những món ăn, công thức chế biến mà đây là một nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống. Chúng được biết đến với những nét đặc trưng như: tính hòa đồng, đa dạng, ít mỡ; đậm đà hương vị với sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều loại nguyên liệu và gia vị khác nhau nhằm giúp tăng mùi vị, sức hấp dẫn trong từng món ăn.

Với một đất nước có chiều dài lịch sử lâu đời và vị trí địa lý khác biệt, thì mỗi một vùng miền trên dải đất hình chữ S này lại có những món ăn đặc trưng, những món đặc sản riêng biệt không thể hòa lẫn.

Và trong số đầu tiên của Khám phá ẩm thực, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ẩm thực Việt Nam là gì? Và những nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Việt Nam.

Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người Việt trên đất nước Việt Nam. Tuy có ít nhiều có sự khác biệt giữa các vùng miền, dân tộc thì ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộng đồng người Việt.

Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió mùa. Ngoài ra, lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam, cùng với đó là 54 dân tộc anh em. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng – miền. Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng. Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú, đa dạng. Đây là một văn hóa ăn uống sử dụng rất nhiều loại rau (luộc, xào, làm dưa, ăn sống); nhiều loại nước canh đặc biệt là canh chua, trong khi đó số lượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vật thường ít hơn. Những loại thịt được dùng phổ biến nhất là thịt lợn, bò, gà, ngan, vịt, các loại tôm, cá, cua, ốc, hến, trai, sò,…

Những món ăn chế biến từ những loại thịt ít thông dụng hơn như thịt chó, thịt dê, thịt rùa, thịt rắn, thịt ba ba,… thường không phải là nguồn thịt chính, nhiều khi được coi là đặc sản và chỉ được sử dụng trong một dịp liên hoan, tiệc nào đó với rượu uống kèm. Người Việt cũng có một số món ăn chay theo đạo Phật được chế biến từ các loại thực vật, không có nguồn thực phẩm từ động vật. Tuy nhiên, trong cộng đồng thì lại có rất ít người ăn chay trường, chỉ có các sư thầy trong các chùa hoặc người bị bệnh nặng buộc phải ăn kiêng.

Ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo (ví dụ như các món măng, chân cánh gà, phủ tạng động vật…).

Trong thực tế, nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩm thực Việt Nam có sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác trên thế giới: món ăn Trung Hoa ăn bổ dưỡng, món ăn Việt ăn ngon miệng, món ăn Nhật nhìn thích mắt. Tuy nhiên, đặc điểm này ngày càng phai nhòa trong thời hội nhập.

Theo ý kiến của Tiến sĩ sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, ẩm thực Việt Nam có 9 đặc trưng:

– Tính hoà đồng hay đa dạng

Bắt đầu từ tính cách dễ dàng tiếp thu văn hóa, đặc biệt là văn hóa ẩm thực từ các dân tộc khác của người Việt, để từ đó chế biến thành của mình. Đây cũng là điểm nổi bật của ẩm thực của nước ta từ Bắc chí Nam.

– Tính ít mỡ.

Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ (khá ít món ăn nấu ngập dầu), không dùng nhiều thịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ như món của người Hoa.

– Tính đậm đà hương vị.

Khi chế biến thức ăn người Việt Nam thường dùng nước mắm để nêm, lại kết hợp với rất nhiều gia vị khác,… nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món khác nhau đều có nước chấm tương ứng phù hợp với hương vị.

– Tính tổng hoà nhiều chất, nhiều vị.

Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều lọai thực phẩm như thịt, tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiều vị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…

– Tính ngon và lành.

Ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo nên nét đặc trưng riêng. Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường được chế biến kèm với các gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âm dương rất thú vị, chỉ có người Việt Nam mới có…

– Dùng đũa.

Giống một vài nước châu Á khác thì việc sử dụng đũa là một nét đặc trưng rất thú vị của ẩm thực Việt, bạn có thể sử dụng đũa trong hầu hết các món ăn, từ kho, xào, chiên, hay thậm chí là cả canh. Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay nướng, người Việt cũng ít dùng nĩa để xiên thức ăn như người phương Tây. Kèm với đó thì gắp là một nghệ thuật, gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi thức ăn…

– Tính cộng đồng hay tính tập thể.

Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trong bữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏ từ bát chung ấy.

– Tính hiếu khách.

Trước mỗi bữa ăn người Việt thường có thói quen mời. Lời mời thể hiện sự giao thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…

– Tính dọn thành mâm.

Người Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trong một bữa lên cùng một lúc chứ không như phương Tây ăn món nào mới mang món đó ra.

Đặc điểm ẩm thực Việt theo từng miền

Miền Bắc

Ẩm thực miền Bắc đặc trưng với khẩu vị mặn mà, đậm đà, thường không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng khác, chủ yếu sử dụng nước mắm loãng, mắm tôm. Sử dụng nhiều món rau và các loại thủy sản nước ngọt dễ kiếm như tôm, cua, cá, trai, hến… và nhìn chung, do truyền thống xa xưa có nền nông nghiệp nghèo nàn, ẩm thực miền Bắc trước kia ít thịnh hành các món ăn với nguyên liệu chính là thịt, cá. Nhiều người đánh giá cao ẩm thực Hà Nội một thời, cho rằng nó đại diện tiêu biểu nhất của tinh hoa ẩm thực miền Bắc Việt Nam với những món phở, bún thang, bún chả, các món quà như cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì… và gia vị đặc sắc như tinh dầu cà cuống, rau húng Láng.

Ẩm thực miền Nam, có thiên hướng hảo vị chua ngọt, đây là nơi chịu ảnh hưởng nhiều của ẩm thực Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, có đặc điểm là thường cho thêm đường và hay sử dụng sữa dừa (nước cốt và nước dão của dừa). Nền ẩm thực này cũng sản sinh ra vô số loại mắm khô (như mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía…). Ẩm thực miền Nam cũng dùng nhiều đồ hải sản nước mặn và nước lợ hơn miền Bắc (các loại cá, tôm, cua, ốc biển), và rất đặc biệt với những món ăn dân dã, đặc thù của một thời đi mở cõi, hiện nay nhiều khi đã trở thành đặc sản: chuột đồng khìa nước dừa, dơi quạ hấp chao, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, đuông dừa, đuông đất hoặc đuông chà là, vọp chong, cá lóc nướng trui…

Ẩm thực miền Trung

Đồ ăn miền Trung được biết đến với vị cay nồng, với tất cả tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hương vị riêng biệt, nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm. Các tỉnh thành miền Trung như Huế, Đà Nẵng, Bình Định rất nổi tiếng với mắm tôm chua, các loại mắm ruốc hay các loạiđặc sản bánh kẹo Đà Nẵng, Huế. Đặc biệt, ẩm thực Huế do ảnh hưởng từ phong cách ẩm thực hoàng gia, cho nên rất cầu kỳ trong chế biến và trình bày. Một mặt khác, do địa phương không có nhiều sản vật mà ẩm thực hoàng gia lại đòi hỏi số lượng lớn món, nên mỗi loại nguyên liệu đều được chế biến rất đa dạng với trong nhiều món khác nhau.

Ẩm thực thể hiện văn hóa tinh thần người Việt

Văn hóa tinh thần của người Việt trong ẩm thực chính là sự thể hiện nét đẹp trong văn hóa giao tiếp, là sự cư xử giữa người với người trong bữa ăn, làm vui lòng nhau qua thái độ ứng xử lịch lãm, có giáo dục. Việc ăn uống đều có những phép tắc, lề lối riêng, từ bản thân, đến trong gia đình, rồi các mối quan hệ ngoài xã hội.

Bản thân mỗi người phải biết giữ gìn, thận trọng trong khi ăn, cũng như đề cao danh dự của mình: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, hay “ăn phải nhai, nói phải nghĩ.

Trong gia đình: ăn chung mâm, ưu tiên thức ăn ngon cho người lớn tuổi, trẻ nhỏ”kính trên nhường dưới”, thể hiện sự kính trọng, tình cảm yêu thương. Bữa cơm hàng ngày được xem là bữa cơm xum họp gia đình, mọi người quây quần bên nhau, cùng nhau vui vầy sau một ngày làm việc mệt nhọc.

Ngoài xã hội: việc mời khách đến nhà thể hiện nét văn hóa giữa người với người trong xã hội. Khi có dịp tổ chức ăn uống, gia chủ thường làm những món ăn thật ngon, nấu thật nhiều để đãi khách. Chủ nhà thường gắp thức ăn mời khách, tránh việc dừng đũa trước khách, và có lời mời ăn thêm khi khách dừng bữa. Bữa cơm thiết không chỉ đơn thuần là cuộc vui mà còn thể hiện tấm lòng hiếu khách đặc trưng của người Việt.

Ẩm thực Việt Nam là một bức tranh đầy màu sắc, nêu bật lên bản sắc riêng của từng dân tộc, vùng miền nhưng chúng vẫn mang trong mình cốt cách, linh hồn Việt đồng nhất. Đậm đà vị dân tộc không thể xóa nhòa.

Soạn Mĩ Thuật Lớp 9: Cách Vẽ Tranh Đề Tài Phong Cảnh Làng Quê Việt Nam Đẹp

Trong bài học này sẽ cùng các bạn Tóm tắt lý thuyết và hướng dẫn soạn Bài Cách vẽ tranh đề tài phong cảnh làng quê Việt Nam đẹp trong sách giáo khoa Mĩ thuật lớp 9.

Hướng dẫn Soạn Mĩ thuật lớp 9 Bài Cách vẽ tranh đề tài phong cảnh làng quê Việt Nam đẹp

Vẽ tranh đề tài phong cảnh quê hương lớp 9 đơn giản nhất cho dành cho những bạn không có năng khiếu vẽ từ nhỏ nhưng lại mong muốn được tự tay vẽ những bức tranh phong cảnh quê hương đẹp và ý nghĩa.

1. Tìm và chọn nội dung đề tài

Trước khi đi vào vẽ tranh đề tài phong cảnh quê hương lớp 9 thì các bạn hãy tìm và lựa chọn cho mình 1 góc cảnh ưng ý nhất để vẽ. Nó có thể là các hình ảnh gợi ý về:

+ Phong cảnh làng quê, đồng quê

+ Phong cảnh miền núi

+ Phong cảnh vùng biển

+ Phong cảnh thành thị

+ Cảnh đẹp nước ta có ở nhiều vùng miền: Đồng bằng, thành thị, miền núi, miền biển,….

+ Tranh phong cảnh vẽ cảnh là chủ yếu (cây cối, nhà cửa, sông, núi…), có thể vẽ người hoặc không vẽ người.

+ Hình chụp phong cảnh quê hương

+ Tranh vẽ phong cảnh quê hương

Sau khi chọn được góc cảnh mình muốn vẽ và chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ giấy vẽ, bút chì, màu tô… thì chúng ta sẽ tiến hành các bước cụ thể sau:

+ Bước 1: Tìm và chọn nội dung đề tài.

+ Bước 2: Tìm bố cục

+ Bước 3 : Vẽ hình

+ Bước 4: Vẽ màu

+ Tránh đường chéo cắt đôi tranh

+ Tránh mảng hình quá lớn ở chính giữa tranh

+ Tránh mảng hình giống nhau đăng đối

+ Xác định đường tầm mắt khi vẽ tranh phong cảnh

+ Đường tầm mắt ngang

+ Đường tầm mắt cao

+ Đường tầm mắt thấp

+ Đường tầm mắt cao

+ Trong tranh sử dụng luật phối cảnh (luật xa gần) rất quan trọng, nó có thể giúp người xem thấy được chiều sâu trong tranh.

+ Đối với việc vẽ tranh đề tài phong cảnh quê hương lớp 9. Các bạn có thể tự hình thành được ý tưởng. Bố cục của tranh vẽ và bắt đầu vẽ tranh theo những gì các bạn hiểu biết.

+ Các bạn cũng có thể phối nhiều màu khác nhau để bức tranh phong cảnh quê hương thêm sinh động, ấn tượng. Thậm chí, có bạn còn thể hiện bức tranh với đa dạng họa tiết và đan xen nhiều nội dung tranh vẽ.

3. Top tranh vẽ phong cảnh quê hương lớp 9 đẹp cho bạn tham khảo

Cập nhật thông tin chi tiết về Tranh Cổ Động Việt Nam Sau Đổi Mới Từ Góc Nhìn Văn Hóa – Là Đề Tài Cấp Bộ, Nghiệm Thu Đạt Loại Xuất Sắc trên website Uta.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!