Văn Miếu Quốc Tử Giám

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Thuyết Minh Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Hải Dương: Công Ty Tnhh Hướng Dẫn Viên Du Lịch Việt Nam Bị Phạt 350 Triệu Đồng
  • Chủ Tịch Vietravel Airlines: Mỗi Tiếp Viên Là Một Hướng Dẫn Viên Du Lịch Ngay Trên Mỗi Chuyến Bay
  • Hồ Sơ Và Thủ Tục Xin Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Hồ Sơ Xin Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Văn Miếu nằm ở khu vực quận Đống Đa, Hà Nội, ngay giữa 4 phố chính gồm Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Du lịch đến với Hà Nội ngàn năm văn hiến thì đây chắc chắn là địa điểm mà bạn nên ghé thăm.

    Nếu đi bằng xe bus, các bạn đi những tuyến sau sẽ có những điểm dừng ngay gần khu vực này: 02, 23, 38, 25, 41.

    Hiện nay, khách du lịch và người dân vào tham quan Văn Miếu phải mua vé vào cổng. Giá vé dành cho người lớn là 20.000đ và vé trẻ em là 10.000đ. Đây là mức giá khá rẻ và áp dụng chung cho cả khách Việt Nam lẫn khách nước ngoài.

    Văn Miếu được xây dựng năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông, là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập thêm Quốc Tử Giám bên cạnh là trường đại học dành riêng cho con vua và các gia đình quý tộc. Đến thời vua Trần Thái Tông, Quốc Tử Giám được đổi tên thành Quốc học viện và thu nhận cả con cái nhà thường dân có sức học xuất sắc.

    Sang thời hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông bắt đầu cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ. Tới thời Nguyễn, Quốc Tử Giám được lập Huế. Văn miếu Thăng Long được sửa sang lại chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội.

    Quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện tại nằm trong khuôn viên rộng 54331 m2, bao gồm nhiều công trình kiến trúc nhỏ khác nhau. Bao bọc khuôn viên là những bức gạch vồ. Trải qua nhiều tu sửa, quần thể di tích này bao gồm Hồ Văn, Văn Miếu môn, Đại Trung môn, Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, bia tiến sĩ, Đại Thành môn, nhà Thái Học.

    Nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người. Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn miếu thờ Khổng Tử ở Trung Quốc, tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.

    Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh. Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa. Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau.

    Các khu tham quan ở Văn Miếu Quốc Tử Giám

    Cổng chính Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch. Bên trong cũng có những bức tường ngăn ra làm 5 khu, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng qua lại nhau.

    Bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.

    Từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn các. Khuê Văn các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85cm x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp.

    Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng.

    Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời tỏa tia sáng. Hai bên phải trái Khuê Văn các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sĩ.

    Khuê Văn các ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.

    Gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng rùa đá. Hiện còn 82 tấm bia của các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đó là những di vật quý nhất của khu di tích.

    Là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Tòa nhà ngoài là Bái đường, Tòa trong là Thượng cung. Đây là khu vực thờ Khổng Tử và Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử).

    Đây là khu nhà Thái Học. Thời Nguyễn trường Quốc Tử Giám ở Hà Nội bị bãi bỏ, nhà thái học bị đổi làm nhà Khải thánh, thờ thân phụ, thân mẫu của Khổng Tử. Tuy nhiên khu nhà này đã bị phá hủy trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Khu nhà Thái Học mới được thành phố Hà Nội xây dựng lại năm 1999. Trong khu thứ năm này còn có nhà Tiền đường – Hậu Đường, là nơi thờ các vị vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An.

    Ý nghĩa của Văn Miếu Quốc Tử Giám

    Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là trường đại học đầu tiên của nước ta mà còn như một ngọn nến luôn rực cháy, thắp sáng truyền thống hiếu học của người Việt. Đến nơi đây bạn dường như được tiếp thêm động lực từ những bảng vàng rực rỡ của ông cha, nạp vào nguồn năng lượng tràn đầy để vững tin trong hành trình nỗ lực học tập và khám phá tri thức nhân loại.

      Tôn trọng di tích, chấp hành quy định của đơn vị quản lý di tích. Không xâm hại đến các hiện vật, cảnh quan di tích. Không xoa đầu rùa, viết, vẽ, đứng, ngồi lên bia Tiến sĩ…
      Trang phục khi tới Văn Miếu nên sạch sẽ, gọn gàng. Không nên mặc váy hoặc quần quá ngắn, trang phục hở hang hay trang phục trong nhà. Không hút thuốc, đội nón, đội mũ trong khu vực Điện thờ, nhà trưng bày…
      Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để thực hiện các hoạt động mê tín dị đoan, cờ bạc, lừa đảo…
    • Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cảnh quan môi trường: Không trèo tường, trèo cây, bẻ cành, hái hoa, giẫm lên thảm cỏ, câu cá, bơi lội, vứt rác bừa bãi.
    • Không mang vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào khu di tích.
      Để xe đúng nơi quy định, tự quản lý tư trang để tránh xảy ra mất mát.
      Các hoạt động quay phim tại Văn Miếu Quốc Tử Giám chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của lãnh đạo khu di tích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Hướng Dẫn Viên Du Lịch Đặc Biệt Ở Thủ Đô Hà Nội
  • Khóa Học Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Đà Nẵng,hcm, Bình Dương
  • Muốn Làm Hướng Dẫn Viên Du Lịch Bạn Không Thể Bỏ Qua Những Điều Này
  • Em Hãy Kể Về Ước Mơ Của Em
  • Kể Về Ước Mơ Của Em
  • Hướng Dẫn Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Và Kinh Nghiệm Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Hành Trình Chạy Trốn Của Kẻ Giết Người Tình, Vùi Xác Chết Khô Dưới Hố Sâu
  • Hành Trình Trốn Chạy Của Kẻ Khát Tình
  • Điều Tra Vụ Xác Chết Lõa Thể Của Nữ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Nếu có dịp đi du lịch Hà Nội, các bạn nên dành chút thời gian để tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nơi đây có nhiều điều thú vị để các bạn tìm hiểu và khám phá.

    Văn Miếu được xây dựng vào tháng 10 năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám, kề sau Văn Miếu. Đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con em trong Hoàng tộc và con em các vị đại thần trong triều đình về sau mới mở rộng và thu nhận cả thường dân học xuất sắc. Văn Miếu – Quốc Tử Giám là tổ hợp gồm hai di tích:

    • Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An – người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam;
    • Quốc Tử Giám – Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.

    Văn Miếu – Quốc Tử Giám trước kia là nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ và thu nhận các học trò giỏi. Nay là nơi tham quan của du khách trong, ngoài nước, nơi khen tặng học sinh thi đỗ điểm cao, sinh viên giỏi xuất sắc và cũng là nơi các sĩ tử đến “cầu may” trước mỗi kỳ thi.

    • Giá vé tham quan và giờ mở cửa
    • Cách đi đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám
    • Điểm tham quan
    • Lưu ý

    Giá vé tham quan và giờ mở cửa Văn Miếu – Quốc Tử Giám

    Giá vé tham quan (Áp dụng cho cả khách trong và ngoài nước).

    • Giá vé người lớn: 30.000VNĐ
    • Giảm 50% cho: Người khuyết tật nặng; nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; người có công với cách mạng; học sinh, sinh viên từ 15 tuổi trở lên (xuất trình thẻ học sinh, sinh viên)
    • Miễn vé tham quan: Đối với người khuyết tật đặc biệt nặng; trẻ em dưới 15 tuổi.

    Giờ mở cửa:

    • Từ 15/4 đến 15/10 mở cửa: từ 7h30 – 17h30
    • Tháng còn lại: 8h00 – 17h00

    Cách đi đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám

    Từ trung tâm thành phố Hà Nội để đến tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám, các bạn có thể đi bằng phương tiện cá nhân hoặc phương tiện công cộng (xe buýt, taxi)

    Nếu đi bằng phương tiện cá nhân

    Xuất phát từ Hồ Gươm, các bạn đi theo đường Lê Thái Tổ, rẽ phải vào đường Tràng Thi, đi về phía đường Cửa Nam, Nguyễn Khuyến, rồi rẽ trái vào đường Văn Miếu.

    Nếu di chuyển bằng xe buýt, các bạn bắt các xe sau đi qua hoặc có điểm dừng lân cận khu Văn Miếu: xe số 02, 23, 38, 25, 41.

    Điểm tham quan

    Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám nằm trên diện tích 54331m² bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám.

    Hồ Văn (hồ Minh Đường hay hồ Giám) nằm ở đối diện cổng chính Văn Miếu bị ngăn cách bởi đường Quốc Tử Giám. Đây là một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát, giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò xưa kia có Phán Thuỷ đường (Văn hồ đình) là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của Nho sĩ kinh thành xưa. Trên gò hiện còn một tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 18 (1865) nói về việc tu sửa hồ Văn và dựng Phán Thủy đường.

    Dọc theo chiều dài phía Tây của Văn Miếu – Quốc Tử Giám là khu vườn Giám. Nơi đây có nhà bát giác, cây cảnh, cây thế, non bộ… Khu vườn Giám hiện cũng được tôn tạo, tu sửa làm nơi dạo chơi, thư giãn cho khách tham quan và tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống của dân tộc..

    Trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau.

    Văn Miếu Môn – Cổng dẫn vào khu thứ nhất:

    Phía trước Văn Miếu Môn là tứ trụ (tượng trung cho 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc) và hai tấm bia Hạ mã hai bên là mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt cổng. Xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia mới lại được lên xe lên ngựa. Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn, phía trên có hình 2 con nghê chầu vào. Quan niệm tâm linh cho rằng nghê là linh vật có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện.

    Văn Miếu môn là kiến trúc cổng Tam quan hai tầng (cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng), Tầng trên có ba chữ 文廟門 (Văn miếu môn). Phía ngoài có đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong có đôi rồng đá thời nhà Nguyễn.

    Khu thứ nhất: Đại Trung Môn.

    Từ cổng chính Văn Miếu Môn vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Ngang hàng với Đại Trung môn có hai cửa nhỏ hai bên, bên trái có cửa Thành Đức (trở thành người có đức), bên phải có cửa Đạt Tài (trở thành người tài giỏi). Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn.

    Khu thứ hai: Khuê Văn Các

    Qua Đại Trung môn là con đường chạy thẳng đến Khuê Văn Các – một công trình kiến trúc độc đáo xây dựng năm 1805 (triều Nguyễn), gồm hai tầng tám mái, bốn mái thượng và bốn mái hạ. Tầng dưới là bốn trụ gạch có chạm trổ hoa văn, tầng trên là kiến trúc gỗ. Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía với ý nghĩa cửa tròn tượng trưng cho sao Khuê và những thanh gỗ chống tượng trưng cho những tia sáng của sao. Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ 奎文閣 (Khuê Văn Các).

    Khuê Văn Các vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội. Ngày nay được lấy làm biểu tượng của thủ đô Hà Nội. Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa nhỏ Bí Văn và Súc Văn. Hai cửa này cùng với gác Khuê Văn đồng thời mở ra khu vực thứ hai, khu vực giếng Thiên Quang và hai vườn bia Tiến sĩ

    Khu thứ ba: Giếng Thiên Quang và vườn bia Tiến sĩ.

    Giếng Thiên Quang (giếng nước soi ánh sáng mặt trời) hay còn gọi là Văn Trì (ao Văn). Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Một con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng, dẫn đến cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2 bên.

    Vườn bia tiến sĩ với 82 tấm bia tiến sĩ của Việt Nam được dựng từ năm 1484 đến 1780, khắc các bài văn bia đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam.

    Bia được dựng hai bên phải trái của giếng Thiên Quang, mặt bia đều quay về phía giếng. Giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông, cửa trông thẳng xuống giếng. Trên các bia trang trí hình mặt trời, mây, hoa lá, ngọn lửa hay mặt trăng, thể hiện nhân sinh quan của người đương thời.

    Khu thứ tư: Đại Thành môn – Khu điện thờ.

    Cửa Đại Thành (Đại Thành môn – “cửa của sự thành đạt lớn lao”), điểm mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính.

    Cũng như cửa Đại Trung, cửa Đại Thành là một kiến trúc 3 gian với hai hàng cột hiên trước sau và một hàng cột giữa. Chính giữa, giáp nóc có treo một bức hoành khắc 3 chữ 大成門 (Đại Thành Môn). Hai bên khắc những dòng chữ có nội dung thông báo về thời điểm xây dựng và trùng tu.

    Cửa Đại Thành mở đầu cho khu vực chính của di tích, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v… và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa.

    Hai cửa nhỏ hai bên Đại Thành Môn là Kim Thanh môn (bên phải) và Ngọc Chấn môn (bên trái). Tuy nhiên, hai cửa này không mở vào thẳng khu vực chính, mà để đi qua con đường lát gạch phía sau 2 dãy Tả Vu và Hữu Vu để tiếp tục qua sang khu thứ năm là Khải Thánh, khu cuối cùng của di tích.

    Khu điện thờ:

    Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng lát gạch Bát Tràng: sân Đại Bái. Hai bên là hai dãy nhà, Tả Vu và Hữu Vu, trước đây thờ bài vị của 72 học trò xuất sắc của Khổng Tử và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An. Bái đường là nơi hành lễ trong các kỳ tế tự, có những bức hoành phi, câu đối ca ngợi Nho học và Khổng Tử. Đại Điện thành gồm chín gian, là nơi thờ Khổng Tử, Tứ phối (Nhan Hồi, Tư Tử, Tăng Sâm và Mạnh Tử) và bài vị của 10 vị hiền triết.

    Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U.

    Sau Đại Bái Đường, song song là tòa Thượng Điện kín đáo và tối hơn Đại Bái, tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch. Đây là nơi thờ những vị tổ đạo Nho. Gian chính giữa có ngai thờ Khổng Tử. Bên trái có 2 ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử; bên phải có 2 ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Hai gian đầu hồi thờ Thập Triết gồm những vị: Mẫu tử, Nhiễm tử, Đoan mộc tử, Trang Tử, Bốc tử, Hữu tử, Tề tử, Ngân tử, Suyền Tôn tử, Chu tử.

    Khu thứ năm: Đền Khải Thánh.

    Đền Khải Thánh xưa vốn là Quốc Tử Giám (nhà Thái học), trường Đại học quốc gia đầu tiên của Việt Nam gồm giảng đường, nhà tam xá cho học sinh ở, thư viện, kho để đồ tế khí. Đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn định đô ở Huế và cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám Huế, nơi đây trở thành trường học của phủ Hoài Đức, sau xây điện Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1946, khu này bị chiến tranh phá huỷ hoàn toàn. Công trình nhà Thái học ngày nay là hoàn toàn mới được hoàn thành vào năm 2000 nhằm tôn vinh truyền thống văn hoá dân tộc. Nơi đây đặt tượng tưởng niệm ba vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An.

    Một số lưu ý khi tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám

    • Tôn trọng di tích, chấp hành quy định của đơn vị quản lý di tích: Không xâm hại đến di vật, cảnh quan di tích; Không xoa đầu rùa, viết, vẽ, đứng, ngồi lên bia Tiến sĩ…
    • Trang phục sạch sẽ, gọn gàng (Không mặc váy hoặc quần quá ngắn, trang phục hở hang, trang phục trong nhà); Không hút thuốc, đội nón, đội mũ trong khu vực Điện thờ, nhà trưng bày…
    • Thực hiện nếp sống văn minh nơi thờ tự: Không có hành vi thiếu văn hóa, nói tục, gây mất trật tự an ninh; Có thái độ đúng mực khi hành lễ, mỗi người chỉ thắp một nén hương; Dâng lễ, thắp hương đúng nơi quy định.
    • Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để thực hiện các hoạt động mê tín dị đoan, cờ bạc, lừa đảo…
    • Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cảnh quan môi trường: Không trèo tường, trèo cây, bẻ cành, hái hoa, giẫm lên thảm cỏ, câu cá, bơi lội, vứt rác bừa bãi.
    • Không mang vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào khu di tích.
    • Để xe đúng nơi quy định, tự quản lý tư trang để tránh xảy ra mất mát.
    • Các hoạt động quay phim tại di tích chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của lãnh đạo khu di tích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Ở Thủ Đô Hà Nội
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Ở Hà Nội
  • Nhiệm Vụ Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì?
  • Trở Thành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Giỏi
  • Chiều Cao Khiêm Tốn Có Làm Được Hướng Dẫn Viên Du Lịch?
  • Bài Thuyết Minh Văn Miếu Quốc Tử Giám

    --- Bài mới hơn ---

  • Hải Dương: Công Ty Tnhh Hướng Dẫn Viên Du Lịch Việt Nam Bị Phạt 350 Triệu Đồng
  • Chủ Tịch Vietravel Airlines: Mỗi Tiếp Viên Là Một Hướng Dẫn Viên Du Lịch Ngay Trên Mỗi Chuyến Bay
  • Hồ Sơ Và Thủ Tục Xin Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Hồ Sơ Xin Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Hồ Sơ Xin Cấp Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Nội Địa
  • Chào mừng quý khách đã đến với khu di tích Văn Miếu -Quốc tử Giám

    Trước tiên cho phép tôi xin phép được tự giới thiệu :tên tôi là……… là thuyết minh viên tại di tich Văn Miếu -Quốc Tử Giám -là trường đại học đầu tiên và cũng là biểu tượng cho văn hoá lịch sử Việt Nam.

    Hôm nay tôi rất vinh dự đuọc cùng các bạn đi tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám -một trường đại học có hằng nghìn năm trước ,là khu di tích văn hoá hằng đầu và là niềm tự hào của ngưòi dân thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn hiến của hà nội.

    Để cho buổi tham quan hôm nay đựơc diễn ra an toan và vui vẻ,tôi xin lưu ý với các bạn một số điều sau:các bạn không nên nói to và nô đùa khi tham quan bên trong ,không vứt rác bừa bãi không giẫm lên cỏ ,không nên tách đoàn và đặc biệt là không nên “xoa” lên đầu các cụ rùa.

    Thưa các bạn Văn Miếu là tên viết tắt của Văn Tuyên Vương Miếu tức là Miếu thờ Văn Tuyên Vương Khởng Tử.Tuy nhiên ,hiện nay mọi người hiểu Văn Miếu là Miếu Văn ,từ “Văn”mang nghĩa là văn hóa ,văn minh,văn học là nét đẹp của con người.

    Văn Miếu được xây dựng vào tháng 8 năm canh tuất(tức tháng 10 năm 1070)tức năm Thần Vũ thứ 2 đời Vua Lê Thánh Tông.Ông cho lập Văn Miếu làm nơi thờ ác ông tổ Nho giáo và Nho học như Chu Công _Khổng Tử.

    Nhìn tổng thể thì Văn Miếu là khu đất hình chữ nhật khá rộng với diện tích khoảng 54000m2 được bao quanh bởi một khu tường có chiều dài hơn 300m va rộng 700m,chạy từ đường Quốc Tử Giám đến đầu phố Nguyễn Thái Học.Văn Miếu xưa là đất Hữu Nghiễm huyện Thọ Xương,nay thuộc quận Đống Đa Hà Nội.Quần thể kiến trúc văn miếu được bố cục đăng đối từng khu,từng lớp theo trục bắc nam,mô phỏng tổng thể quy hoạch khu văn miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ,Sơn Đông,Trung Quốc.Tuy nhiên,quy mô ở đây đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc .Toàn bộ kiến trúc văn miếu đều là kiến trúc đầu nhà Nguyễn.Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ,loại gạch đặc trưng từ thời Lê ,có tuổi thọ trên 300 năm tuổi.

    Bên ngoài có tường bao quanh bên trong được chia làm 5 khu.

    Và bây giờ tôi sẽ cùng các bạn tham quan lần lựơt các lớp kiến trúc.trước tiên là Hồ Văn.

    Hồ Văn xưa kia gọi là Thái Hồ,có diện tích là 12297m2,giữa hồ có gò Kim Châu,trên gò dựng Phán Thuỷ đường là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa.Nhà Phán Thuỷ nay không còn nhưng trên gò nay còn một tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 1891865)trong dịp tu sửa Văn Miếu và nạo vét Hồ Văn.

    Các nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng bên cạnh giá trị về cảnh đẹp du ngoạn còn có giá trị về triết học tâm linh theo lối kiến trúc “thượng gia hạ trì”.

    Đối diện với Hồ Văn là cổng Tam quan .Khu này được bắt đầu bằng Tứ Trụ và hai bia Hạ Mã ở hai bên .trước kia Tứ Trụ soi bong xuống mặt Hồ Văn nhưng nay đã bị ngăn cách bởi phố Quốc Tử Giám.

    Tứ Trụ được xây bằng gạch hai trụ giữa xây cao hơn có hình hai con nghê chầu vào.theo quan niệm tâm linh xưa ,con nghê là con vật linh không hại ai,nó có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện.Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh,đuôi chắp vào nhau.Phượng là con vật linh biểu hiện cho tầng trên với ý nghĩa:đầu đội chân lí,mắt là mặt trời,lưng cõng bầu trời,long là cây cỏ,cánh là gió ,đuôi là tinh tú ,chân là đất. Vì thế nó tượng trưng cho cả vũ trụ mang tư cách vận chuyển bầu trời.

    Hai tấm bia Hạ Mã được đặt trong hai nhà bia nhỏ xây gạch ,xưa kia dù công hầu hay khanh tướng ,dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ Mã nay sang tấm bia Hạ Mã kia lại mới lên ngựa lên xe đi tiếp.

    Trước mắt chúng ta là lối vào chính khu Văn Miếu ,ở phía nam chính là văn miếu môn.Văn Miếu Môn tức là cổng quan ngoài cùng ,cổng Tam Quan lớn xây 2 tầng 3 cửa.Cửa giữa to,tầng trên có đề chữ”Văn Miếu Môn”.Kiến trúc cùa Văn Miếu Môn khá độc đáo và đẹp mắt.Đây là kiểu kiến trúc hai tầng tám mái .Nhìn bề ngoài ,Tam Quan là một kiểu kiến trúc riêng biệt cửa chính giữa xây hai tầng .Mặt bằng hình vuông,tầng dười to,tầng trên nhỏ chồng lên tầng dưới ,xung quanh thừa ra một hang hiên nhỏ bốn mặt có lan can.Phía bên trong tầng dưới chỉ mở một của cuốn.Đây là hai cánh của bằng gỗ lim mở vào trong,cửa hình bán nguyệt và chạm nổi hình đôi rồng chầu mạn nguyệt.Hai cửa nhỏ hai bên là bậc lên tnầg hai quan trọng.Tầng 2 chính là tam quan mở 3 cửa cuốn không có cánh cửa.Tầng trên là tám mái,bốn mái hiên và bốn mái nóc cong lên o bốn góc.Bờ nóc cũng có đắp nổi “lưỡng long chầu nguyệt”,thể hiện sự hài hoà âm dương.Ở đây có các cánh cửa ở các bậc cổng ,hình ành này xuất hiện khá nhiều .Lưỡng long chầu mạn nguỵêt nhằm biểu dương cho Nho Giáo.

    Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê ,bên trong là đôi rồng mang phong cách đời Nguyễn .Hai mặt tam quan đều được đắp nổi hai câu đối chữ Hán.Bên trái trước cổng tam quan đắp nổi cảnh “long ngư hội tụ” cá-rồng ẩn hiệntrong mây ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt,bên phải là cảnh “mảnh hổ hạ sơn” núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp của một con hổ hung dũng xuống núiví như các bậc thức giả khí thế bước vào đời.

    Tiếp theo là “tả môn” và “hữu môn” ở hai bên nhỏ hơn và thấp hơn cũng xây bốn mái hiên và bốn mái nóc nhìn tựa như kiến trúc hai tầng .Cổng tam quan chỉ được mở khi các bậc vua quan tới thăm văn miếu và tế lễ Khổng Tử .Còn học trò và thứ dân thì phải đi bằng hai cửa ngách.Vâng ,bây giờ chúng ta sẽ thử một lần được làm vua,tiếp tục đi qua cổng giữa để vào thăm văn miếu.

    Theo con đường lát gạch này dẫn tới khu thứ hai được bắt đầu bằng cửa “Đại Trung Môn”,2 bên là hai cổng nhỏ có tên là”thành đức “và ‘đạt tài” mang ý nghĩa nho giáo đào tạo con người vừa có đức vừa có tài.Cổng Đại Trung gồm 3 gian ,xây trên nền gạch cao,mái lợp ngói mũi hài ,có hai hang cột trước và sau,ở giữa là:”hàng cột chống nóc”.Bên trên cổng chính là hình haio con cá chép chầu bình móc ở giữa.Sở dĩ có hình ảnh cá chép bởi theo truyền thuyết Trung Quốc :cá vượt vũ môn.Hằng năm trời tổ chức cuộc thi kén rồng ở của Vũ-con cá nào mà nhảy qua được một lúc ba đợt khác nhau thì lập tức có tiếng sấm nổ ,cá biến thành Rồng.Và chỉ có cá chép là làm được điều đó.ngày nay các bạn nhìn cá trê đầu nó bẹp vì người ta cho rằng trong cuộc thi nó đã không vượt qua được và đầu nó va vào đá.con cá chày mắt đỏ vì nó không vượt qua nên khóc nhiều quá…Do vậy, của Vũ được dung để chỉ chốn trường thi:cá vượt vũ môn”chỉ việc thi cử ,muốn đỗ đạt thi phải tích góp kiến thức,học tập chăm chỉ.

    Qua cửa Đại Trung Môn,các bạn tiếp tục đến vớikhu vực thú ba cùa Văn Miếu-Quốc Tử Giám-Khuê Văn Các.

    Khuê Văn Các hay còn gọi là Gác Khuê Văn .Là một lầu vuông tám mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua gia long triều Nguyễn.Gác dựng trên một nền vuông cao ,lát gạch Bát Tràng,kiểu dáng kiến trúc độc đáo.Tầng dưói chỉ là bốn trụ gạch,bốn bề trống không.Tầng trên là kiến trúc gỗ từ mái,lớp và phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc cát vôi.Bốn cạnh sàn gỗ có diềm trạm trổ tinh vi,bốn góc sàn làm lan can con trên cùng bằng gỗ,bốn mặt tường bịt ván gỗ ,mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống toả ra 4 phía.

    Các cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông nói lên quan niệm trời tròn-đất vuông âm dương hoà hợp cùa người xưa,của và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sức khoẻ.

    Khuê văn theo cách lí giải về thiên thể ,khuê là một ngôi sao trong chòm 28 sao,là đầu Bạch Hổ phương tây có 16 ngôi sắp xếp khúc khửu giống hình chữ văn.chính vì vậy sao khuê được coi là sao chủ về văn học.Khuê Văn Các là biều tượng cho thu đô Hà Nội,biểu tượng của trí thức,biểu tượng cho thủ đô ngàn năm văn hiến.

    Cạnh Khuê Văn Các là giếng Thiên Quang đầy nước trong xanh in hình Khuê Văn Các.Gác Khuê Văn xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di tích Văn miếu-Quốc Tử Giám.Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa Bí Văn (văn đẹp đẽ,trau truốt,sang sủa)và súc văn(văn hàm ý ,súc tích có sức truyền cảm thuyết phục con người).

    Mời các bạn nhìn sang hai bên giếng Thiên Quang,đó chính là khu nhà bia,một di yích có giá trị bậc nhất tại Văn Miếu -Quốc Tử Giám.Khu nhà bia gồm 82 tấm bia chiến sĩ được chia đều sang 2 bên giếng Thiên Quang.trên bia có khắc rõ tên và quê quán của 1307 vị tiến sĩ.

    Ý tưởng dựng bia được khởi sự từ đời Vua Lê Thánh Tông (1484)và các đời vua kế tiếp cho khắc tên các vị danh nhân lên bia nhằn biểu dưong các vi tiến sĩ đỗ đạt và khích lệ tinh thần hoc hành thi cử.o mỗi bên khu nhà bia dều có một toà đình vuông,với 4 mặt trống không,bên trong thờ bia,nên còn được gọi là Bi Đình.Xưa kia jhằng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cung sắp lễ vật cúng bái các vị tiên nho mà vẫn được khắc tên trên bia đá đến bây giờ.82 tấm bia tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc ,tuy kích thước khác nhau nhưng bia nào cũng được dựng trên lưng một con rùa,đầu ngẩng cao,4 chân xoài ra trong tư thế đang bò lên.

    Như các bạn đang thấy,bia gồm 3 phần là trán bia,than bia và đế bia.

    Trán bia có hình khum vòm,vơí các hoạ tiết lưỡng long chầu mạn nguyệt.

    Thân bia:đây là phần quan trọng nhất của bia,nhần trên cùng sát với trán bia khắc niên đại tổ chức khoa thi.Bnê dưới là bài kí khắc theo chiều dọc của bia,đọc từ trên xuống dưới từ phải sang trái,với nội dung ca ngợi triều vua đang trị vì.tiếp theo là năm tổ chức khoa thi,số lượng thí sinh thi,số lượng người lấy đỗ,tên tuổi quê quán của người viết văn bia và người khắc bia.phnầ quan trọng nhất là tên tuổi quê quán của các vị tiến sĩ được sắp xếp từ cao xuống thấp là đệ nhất tiến sĩ,đệ nhị tiến sĩ,đệ tam tiến sĩ.

    Đế bia là hình một con rùa.

    Có lẽ các bạn đang thắc mắc tại sao lại là rùa phải không ạ?

    Vâng ,theo quan niệm của người Việt thì rùa từ xa xưa đã gắn bó với người dân Việt Nam:Đó là thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa,rùa là xứ giả của Thuỷ Vươnggiúp Lê Lợi đại phá quân Minh…hơn thế Rùa là một trong tứ linh,bung phặng tượng trưng cho đất mang yếu tố âm,mai khum tượng trưng cho trời mang yếu tố dương tượng trưng cho trời.vì thế rùa hội tụ cả âm và dương.ngoài ra Rùa còn có ý nghĩa là trường tồn và vĩnh cửu.Bia đá đặt trên lưng rùa nhằm khẳng đinh sự trường tồn của trí tuệ của tinh hoa dân tộc việt.

    82 tấm bia có ghi 1307 nhân vật trong đó có 17 trạng nguyên,19 bảng nhãn,47 thám hoa,284 hoàng giáp và 938 tiến sĩ.

    Người được khắc tên trên bia đầu tiên là ông Nguyễn Trực(1442)người cuối cùng được khắc tên trên bia là Phạm Huy Ôn(1779).người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất là ông Bàn Tử Quang và đỗ khi tuổi mới 13,trẻ nhất là Nguyễn Hiền.Qua văn bia chúng ta vẫn thấy có những vị danh nhân vẫn được lưu truyền như nhà sử học Ngô Sĩ Liên đỗ tiến sĩ năm 1442,nhà ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm……nhìn vườn bia các bạn có thể thấy nhiều tấm bia với kiến trúc khác nhau bởi chúng được làm trong thời gian khác nhau.

    Các bia khắc vào thế kỷ 15 có 14 chiếc ,những tấm khắc vào thế kỷ 17 có 25 chiếc ,những tấm bia loại ba được xây dựng vào thế kỷ 18 .ngoài ra còn có một số bia không thuộc loại nào.Các bạn có thấy những hàng chữ bị xóa trên bia không ạ?đó là o khi triều Nguyễn lên cầm quyền d0 có những mâu thuẫn với triều đình trước đã cho xoá đi.Nếu ta tính từ khoa thi Nhâm Tuất (1442) tới khoa thi Đinh mùi 1789 thì phải có 124 kỳ thi và phải có 117 bia tiến sĩ.Nhưng sau bao chiến tranh thì hiện nay chỉ còn 82 bia.

    Vâng tôi và các bạn vừa được tham quan khu nhà bia một niềm tự hào của nền văn hoá việt,và sau đây xin mời các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ tư của văn miếu đó là Đại Trung Môn và Nhà Đại Bái.

    Đại Trung Môn là khu vực chính thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết bao gồm Đại Thành,nhà Đại Bái và hai dãy Đông Vu ,Tây Vu.

    Cửa Đại Thành 3 giam 2 cột hiên trước và sau giống như cửa Đại Trung một hang giữa đỡ xà nóc,ba gian đều được lắp của gỗ sơn đỏ trên có hoạ tiết rồng,mây.Gian giữa đề ba chữ :Đại Thành Môn.Cửa Đại Thành là cửa của sự thành đạtlớn lao mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính mang một cái tên đấy ý nghĩa về học vấn,đạo đức.Hai bên cổng đại thành có 2 cửa phụ :kim thanh ở phía đông và ngọc chấn ở phía tây.đây là 2 lối vào sân đại bái và điện đại thành ,bởi ở đây trước kia chỉ tế Khổng Tử thì cổng đại thành mới mở.chúng ta đang đứng trên sân đại bái,trước mặt là toà đại bái và điện đại thành,2 bên là dãy nhà đông vu và tây chúng tôi dãy nhà này đều gồm 9 gian.Trước đây 2 bên đều xây 5 bệ,trên có 5 khám bài thờ Thất Thập nhị hiền -đều là học trò của Khổng Tử.Kiến trúc cũ đã bị phá vỡ vào năm 1946,kiến trúc hiện nay đã được xây dựng lại năm 1954.Hiện nay ở đây trưng bày phòng tranh và bán đồ lưu niệm.Toà Bái Đường là nơi tổ chức các nghi thức tế lễ ,do vậy ở chính giữa đặt một hương án trên bày đồ thờ .Hai bên hương án có 2 con hạc đứng trên lưng rùa.hạc là biểu hiện cho sự tinh tuý, thanh cao.Hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện cho sự hài hoà giữa trời và đất,giữa hai cực âm dương.hình ảnh hạc đứng trên lưng rùa còn thể hiện long thuỷ chung,biết tương trợ giúp đỡ nhau cùa những người bạn tốt khi gặp khó khăn.phía trên hương án có bức hoành phi :”Vạn Thế Sư Biểu”-người thầy tiêu biểu của muôn đời.4 chữ này do vua Khang Hy tặng cho Khổng Tử.và ở gian đầu hồi phía đông còn bức hoành phi “cổ kim nhật nguyệt” và chuông bích ung đều cửa tư nghiệp Quốc Tử Giám quận công Nguyễn Nghiễm là cha của Nguyễn Du làm 1768.bây giờ chúng ta tiếp tục đến với Điện Đại Thành.

    Điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử ,Tứ Phối và Thập Triết.

    Gian chính là nơi thờ Khổng Tử .Khổng Tử (551-479TCN) là một nhà tư tưởng ,nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Quốc.Ông sinh tai ấp Trâu,làng Xương Bình ,nước Lỗ(nay là huyện Khúc Phụ,Sơn Đông,Trung Quốc.Khổng Tử là người sáng lập ra đạo nho ở Trung Quốc.chủ yếu dạy về đạo làm người.Trong khi Đức Khổng Tử được người đời tôn là Vạn Thế Sư Biểu thì Tứ Phối là các học trò của ông lại được phối hợp thờ tại các Văn Miếu ở Trung Quốc và Việt Nam.Họ là Nhan Hồi ,Tăng Sâm,Tử TưVà Mạnh Tử.

    Theo cánh tay tôi,các bạn đang nhìn thấy tượng thờ Nhan Tử.là học trò giỏi nhất của Đức Khổng Tử ,đúng đầu trong khoa đức hạnh của của Khổng.Được người đời xưng tụng là Phục Thánh Nhan Tử.

    Cạnh là Thuật Thánh Tử Tư(cháu nội của Khổng Tử).Tử tư không theo học trực tiếp với ông nội mà theo hoc Tăng Tử-một học trò cùa Khổng Tử.Tử Tư tạo nên một phái lớn trong Nho Giáo là phái tử tư.

    Đối diện là tượng thờ Tông Thánh Tăng Tử và Á Thánh Mạnh Tử.

    Là học trò duy nhất hiểu được đạo Nhất quán của Khổng Tử và viết nên sách Luận Ngữ.Tăng Tử cũng được đời sau tôn lên làm gương hiếu thứ 3 trong nhị thập tứ hiếu.

    Mạnh Tử là học trò của Tử Tư.Ông là người soạn sách mạnh tử và lập ra thuyết tánh thiện(nhân chi sơ tánh bổn thiện).Nhười ta tôn Mạnh từ là bav65 thánh đúng hang thứ nhì dưói Khổng Tử.

    Hai gian đầu hồi là 10 bia đá bài vị Thập Triết,là nhũng người tiêu biểu cho 4 khoa:Đức hạnh,ngôn ngữ,chính trị,văn học.

    Nhà tiền đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học,là nơi tổ chức các hội nghị,hội thảo khoa học,văn hoá,nghệ thuật dân tộc.

    Hậu đường là nơi thờ Chu Văn An-một ngưòi thầy đức cao vọng trọng.ông đỗ thái học sinh đời Trần nhưng không lên làm quan mà về quê dạy học,ông đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.Dưới triều Trần Minh Tông ông được mời ra dạy học cho thái tử Trần Vượng.đến triều vua Trần Dụ Tông,gian thần lộng hành.bị từ chối Thất Trảm sớ.Ông đã từ quan về ở ẩn tại ní phượng hoàng(chí linh,hải dương).ông mấy năm 78 tuổi,được truy tặng tước Văn Trinh Công,ban tên thuỵ là Khang Tiết và cho thờ ở Văn Miếu.

    Theo tay tôi là 2 mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám xưa và nay.

    Văn Miếu ngày xưa có diên tích rộng,bao gồm toàn bộ khu vực của bệnh viện Sanh pôn và bảo tang mỹ thuật hiện nay và cả khu hồ văn rộng lớn.

    Mời các bạn đến xem mô hình văn miếu-quốc tử giám.cùng với sự phát triển của đất nước thì khu vực này đã bị thu hẹp.Hiện nay diên tích của văn miếu-quốc tử giám chỉ còn 54331m2.còn kiến trúc được giữ lại trên nền đất nhà thái học gồm 2 tầng tầng 1 thờ Chu Văn An.Tầng 2 là nơi thờ 3 vị vua có công trong việc tu sủa và xây dựng văn miếu quốc tử giám là lý thánh tông,lý nhân tông và lê thánh tông.Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta.Trước đây chỉ có các vị Thái tử được học sau đó mở rộng quy mô hơn .Thời gian học tập là 3 năm, các thi sinh phỉa trải qua 3 cuộc thi :hương,hội,đình.

    Xin mời các bạn đến với tầng 2 của nhà thái học.

    ở gian chính giửa thờ vua Lý Thánh Tông,sinh năm 1023,ở ngôi được 17 năm,thọ 50 tuổi .ông là người đổi tên nước ta từ Đại cồ việt sang Đại việt.

    Bên tay phải các bạn là bàn thờ Lý Nhân Tông.Ngài là người học trò đầu tiên của quốc tử giám(khi ông chỉ mới lên 5).lý nhân tông sinh năm 1066,mat năm 63 tuổi.ông ở ngôi được rất lâu(56 năm).năm 1076 ông đã cho phép triều đình lập ra quốc tử giám và cho chon những hiền tài vào đào tạo ,phục vụ cho đất nước.

    Bên tay trái các bạn là tưọng thờ vua Lê Thánh Tông.Ông la 2người kế thừa và nâng cao tầm vóc của quốc từ giám.ông lên ngôi được 38 năm.được người đời đánh giá là minh mẫn,sáng suốt,thâm tuý về văn,giỏi giang về võ…

    Ba vị vua là tinh hoa của thời kỳ phong kiến việt nam khi biết lấy sự học làm cái gốc cho sự nghiệp dựng nứơc và giữ nước.

    Vâng thưa các bạn .vậy là tầng 2 của nhà thái học đã kết thúc buổi tham quan di tích văn miếu-quốc tử giám của chúng ta ngày hôm nay.

    Tôi và các bạn đã cùng nhau đến với những giá trị nhân văn ý nghĩa,độc đáo.truyền thống hiếu học của dân tộc việt ta.đặc biệt là 82 tấm bia tiến sĩ,niềm tự hào của tinh hoa trí tuệ việt nam.

    Qua buổi tham quan này các bạn đã có được những kiến thức về nền giáo dục việt nam.dồng thời nâng cao niềm tự hào của nòi giống tiên dòng.

    Vâng,và trước khi kết thúc buổi tham quan xin hỏi có bạn nào có thắc mắc gì không.hướng dẫn viên sẽ giải thích trong tầm hiểu biết.

    Xin chào và hẹn gặp lại.

    -st-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Những Hướng Dẫn Viên Du Lịch Đặc Biệt Ở Thủ Đô Hà Nội
  • Khóa Học Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Đà Nẵng,hcm, Bình Dương
  • Muốn Làm Hướng Dẫn Viên Du Lịch Bạn Không Thể Bỏ Qua Những Điều Này
  • Em Hãy Kể Về Ước Mơ Của Em
  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Văn Miếu Quốc Tử Giám

    --- Bài mới hơn ---

  • Hành Trình Chạy Trốn Của Kẻ Giết Người Tình, Vùi Xác Chết Khô Dưới Hố Sâu
  • Hành Trình Trốn Chạy Của Kẻ Khát Tình
  • Điều Tra Vụ Xác Chết Lõa Thể Của Nữ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Những Yếu Tố Cần Thiết Để Trở Thành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Kỹ Năng Cần Có Để Trở Thành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Chuyên Nghiệp
  • Chào mừng quý khách đã đến với khu di tích Văn Miếu -Quốc tử Giám

    Hôm nay, tôi rất vinh dự được cùng các bạn đi tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám -một trường đại học hàng nghìn năm trước, là khu di tích văn hoá hàng đầu và là niềm tự hào của người dân thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn hiến của Hà Nội.

    Để cho buổi tham quan hôm nay đựơc diễn ra an toàn và vui vẻ, tôi xin lưu ý với các bạn một số điều sau: Các bạn không nên nói to và nô đùa khi tham quan bên trong, không vứt rác bừa bãi, không giẫm lên cỏ, không nên tách đoàn và đặc biệt là không nên “xoa” lên đầu các cụ rùa.

    Thưa các bạn Văn Miếu là tên viết tắt của Văn Tuyên Vương Miếu tức là Miếu thờ Văn Tuyên Vương tước hiệu của đức Khổng Tử. Tuy nhiên, hiện nay mọi người hiểu Văn Miếu là Miếu Văn, từ “Văn”mang nghĩa là văn hóa, văn minh, văn học là nét đẹp của con người.

    được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học”. Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.

    Nhìn tổng thể thì Văn Miếu là khu đất hình chữ nhật khá rộng với diện tích khoảng 54000m2 được bao quanh bởi một khu tường có chiều dài hơn 300m va rộng 700m, chạy từ đường Quốc Tử Giám đến đầu phố Nguyễn Thái Học. Văn Miếu xưa là đất Hữu Nghiễm, huyện Thọ Xương nay thuộc quận Đống Đa Hà Nội. Quần thể kiến trúc Văn Miếu được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục bắc nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu văn miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc .Toàn bộ kiến trúc văn miếu đều là kiến trúc đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ, loại gạch đặc trưng từ thời Lê có tuổi thọ trên 300 năm tuổi.

    Bên ngoài có tường bao quanh bên trong được chia làm 5 khu.

    Và bây giờ tôi sẽ cùng các bạn tham quan lần lựơt các lớp kiến trúc, trước tiên là Hồ Văn.

    Hồ Văn xưa kia gọi là Thái Hồ, có diện tích là 12297m2, giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa. Nhà Phán Thuỷ nay không còn nhưng trên gò nay còn một tấm bia dựng trong dịp tu sửa Văn Miếu và nạo vét Hồ Văn.

    Các nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng bên cạnh giá trị về cảnh đẹp du ngoạn còn có giá trị về triết học tâm linh theo lối kiến trúc “thượng gia hạ trì”.

    Đối diện với Hồ Văn là cổng Tam quan. Khu này được bắt đầu bằng Tứ Trụ và hai bia Hạ Mã ở hai bên. Trước kia Tứ Trụ soi bóng xuống mặt Hồ Văn nhưng nay đã bị ngăn cách bởi phố Quốc Tử Giám.

    Tứ Trụ được xây bằng gạch hai trụ giữa xây cao hơn có hình hai con nghê chầu vào. Theo quan niệm tâm linh xưa, con nghê là con vật linh không hại ai, nó có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh, đuôi chắp vào nhau. Phượng là con vật linh biểu hiện cho tầng trên với ý nghĩa: đầu đội chân lí, mắt là mặt trời, lưng cõng bầu trời, long là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất. Vì thế nó tượng trưng cho cả vũ trụ mang tư cách vận chuyển bầu trời.

    Hai tấm bia Hạ Mã được đặt trong hai nhà bia nhỏ xây gạch ,xưa kia dù công hầu hay khanh tướng ,dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ Mã nay sang tấm bia Hạ Mã kia lại mới lên ngựa lên xe đi tiếp.

    Trước mắt chúng ta là lối vào chính khu Văn Miếu, ở phía nam chính là văn Miếu Môn. Văn Miếu Môn tức là cổng quan ngoài cùng, cổng Tam Quan lớn xây 2 tầng 3 cửa. Cửa giữa to, tầng trên có đề chữ”Văn Miếu Môn”. Kiến trúc của Văn Miếu Môn khá độc đáo và đẹp mắt. Đây là kiểu kiến trúc hai tầng tám mái . Nhìn bề ngoài, Tam Quan là một kiểu kiến trúc riêng biệt cửa chính giữa xây hai tầng. Mặt bằng hình vuông, tầng dười to, tầng trên nhỏ chồng lên tầng dưới, xung quanh thừa ra một hang hiên nhỏ bốn mặt có lan can. Phía bên trong tầng dưới chỉ mở một của cuốn. Đây là hai cánh của bằng gỗ lim mở vào trong, cửa hình bán nguyệt và chạm nổi hình đôi rồng chầu mạn nguyệt. Hai cửa nhỏ hai bên là bậc lên tầng hai quan trọng. Tầng 2 chính là tam quan mở 3 cửa cuốn không có cánh cửa. Tầng trên là tám mái, bốn mái hiên và bốn mái nóc cong lên ở bốn góc. Bờ nóc cũng có đắp nổi “lưỡng long chầu nguyệt”, thể hiện sự hài hòa âm dương. Ở đây có các cánh cửa ở các bậc cổng, hình ảnh này xuất hiện khá nhiều. Lưỡng long chầu mạn nguỵêt nhằm biểu dương cho Nho Giáo.

    Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi rồng mang phong cách đời Nguyễn. Hai mặt tam quan đều được đắp nổi hai câu đối chữ Hán. Bên trái trước cổng tam quan đắp nổi cảnh “long ngư hội tụ” cá-rồng ẩn hiện trong mây ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt, bên phải là cảnh “mảnh hổ hạ sơn” núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp của một con hổ hung dũng xuống núi ví như các bậc thức giả khí thế bước vào đời.

    Tiếp theo là “tả môn” và “hữu môn” ở hai bên nhỏ hơn và thấp hơn cũng xây bốn mái hiên và bốn mái nóc nhìn tựa như kiến trúc hai tầng. Cổng tam quan chỉ được mở khi các bậc vua quan tới thăm văn miếu và tế lễ Khổng Tử. Còn học trò và thứ dân thì phải đi bằng hai cửa ngách.Vâng, bây giờ chúng ta sẽ thử một lần được làm vua, tiếp tục đi qua cổng giữa để vào thăm Văn Miếu.

    Theo con đường lát gạch này dẫn tới khu thứ hai được bắt đầu bằng cửa “Đại Trung Môn”, 2 bên là hai cổng nhỏ có tên là “thành đức “và ‘đạt tài” mang ý nghĩa nho giáo đào tạo con người vừa có đức vừa có tài. Cổng Đại Trung gồm 3 gian, xây trên nền gạch cao, mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột trước và sau, ở giữa là: “hàng cột chống nóc” . Bên trên cổng chính là hình hai con cá chép chầu bình móc ở giữa. Sở dĩ có hình ảnh cá chép bởi theo truyền thuyết Trung Quốc: cá vượt vũ môn. Hằng năm, trời tổ chức cuộc thi kén rồng ở của Vũ-con cá nào mà nhảy qua được một lúc ba đợt khác nhau thì lập tức có tiếng sấm nổ, cá biến thành Rồng. Và chỉ có cá chép là làm được điều đó. Ngày nay các bạn nhìn cá trê đầu nó bẹp vì người ta cho rằng trong cuộc thi nó đã không vượt qua được và đầu nó va vào đá. Con cá chày mắt đỏ vì nó không vượt qua nên khóc nhiều quá… Do vậy, của Vũ được dung để chỉ chốn trường thi: cá vượt vũ môn chỉ việc thi cử ,muốn đỗ đạt thi phải tích góp kiến thức, học tập chăm chỉ.

    Qua cửa Đại Trung Môn,các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ ba của Văn Miếu-Quốc Tử Giám- Khuê Văn Các.

    Khuê Văn Các hay còn gọi là Gác Khuê Văn. Là một lầu vuông tám mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua gia long triều Nguyễn. Gác dựng trên một nền vuông cao, lát gạch Bát Tràng, kiểu dáng kiến trúc độc đáo. Tầng dưới chỉ là bốn trụ gạch,bốn bề trống không. Tầng trên là kiến trúc gỗ từ mái, lớp và phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc cát vôi. Bốn cạnh sàn gỗ có diềm trạm trổ tinh vi, bốn góc sàn làm lan can con trên cùng bằng gỗ, bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống toả ra 4 phía.

    Các cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông nói lên quan niệm trời tròn-đất vuông âm dương hoà hợp của người xưa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sức khoẻ.

    Khuê Văn theo cách lí giải về thiên thể, Khuê là một ngôi sao trong chòm 28 sao, là đầu Bạch Hổ phương tây có 16 ngôi sắp xếp khúc khửu giống hình chữ văn. Chính vì vậy sao khuê được coi là sao chủ về văn học. Khuê Văn Các là biểu tượng cho thủ đô Hà Nội, biểu tượng của trí thức, biểu tượng cho Thủ Đô ngàn năm văn hiến.

    Cạnh Khuê Văn Các là giếng Thiên Quang đầy nước trong xanh in hình Khuê Văn Các. Gác Khuê Văn xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di tích Văn miếu-Quốc Tử Giám. Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa Bí Văn (văn đẹp đẽ, trau truốt, sang sủa) và súc văn (văn hàm ý, súc tích có sức truyền cảm thuyết phục con người).

    Mời các bạn nhìn sang hai bên giếng Thiên Quang, đó chính là khu nhà bia, một di tích có giá trị bậc nhất tại Văn Miếu -Quốc Tử Giám. Khu nhà bia gồm 82 tấm bia chiến sĩ được chia đều sang 2 bên giếng Thiên Quang. Trên bia có khắc rõ tên và quê quán của 1307 vị tiến sĩ.

    Ý tưởng dựng bia được khởi sự từ đời Vua Lê Thánh Tông (1484) và các đời vua kế tiếp cho khắc tên các vị danh nhân lên bia nhằm biểu dương các vị tiến sĩ đỗ đạt và khích lệ tinh thần học hành thi cử. Ở mỗi bên khu nhà bia đều có một tòa đình vuông, với 4 mặt trống không, bên trong thờ bia nên còn được gọi là Bi Đình. Xưa kia hằng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây, cung sắp lễ vật cúng bái các vị tiên nho mà vẫn được khắc tên trên bia đá đến bây giờ. 82 tấm bia tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc, tuy kích thước khác nhau nhưng bia nào cũng được dựng trên lưng một con rùa, đầu ngẩng cao, 4 chân xoài ra trong tư thế đang bò lên.

    Như các bạn đang thấy, bia gồm 3 phần là trán bia, than bia và đế bia.

    Trán bia có hình khum vòm với các họa tiết lưỡng long chầu mạn nguyệt.

    Thân bia: đây là phần quan trọng nhất của bia, phần trên cùng sát với trán bia khắc niên đại tổ chức khoa thi. Bên dưới là bài kí khắc theo chiều dọc của bia, đọc từ trên xuống dưới từ phải sang trái, với nội dung ca ngợi triều vua đang trị vì. Tiếp theo là năm tổ chức khoa thi, số lượng thí sinh thi, số lượng người đỗ, tên tuổi quê quán của người viết văn bia và người khắc bia. Phần quan trọng nhất là tên tuổi quê quán của các vị tiến sĩ được sắp xếp từ cao xuống thấp là đệ nhất tiến sĩ, đệ nhị tiến sĩ, đệ tam tiến sĩ.

    Đế bia là hình một con rùa.

    Có lẽ các bạn đang thắc mắc tại sao lại là rùa phải không ạ?

    Vâng, theo quan niệm của người Việt thì rùa từ xa xưa đã gắn bó với người dân Việt Nam: Đó là thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, rùa là sứ giả của Thủy Vương giúp Lê Lợi đại phá quân Minh… hơn thế rùa là một trong tứ linh, bụng phẳng tượng trưng cho đất mang yếu tố âm, mai khum tượng trưng cho trời mang yếu tố dương tượng trưng cho trời. Vì thế rùa hội tụ cả âm và dương, ngoài ra rùa còn có ý nghĩa là trường tồn và vĩnh cửu. Bia đá đặt trên lưng rùa nhằm khẳng định sự trường tồn của trí tuệ của tinh hoa dân tộc Việt.

    82 tấm bia có ghi 1307 nhân vật trong đó có 17 trạng nguyên, 19 bảng nhãn, 47 thám hoa, 284 hoàng giáp và 938 tiến sĩ.

    Người được khắc tên trên bia đầu tiên là ông Nguyễn Trực(1442)người cuối cùng được khắc tên trên bia là Phạm Huy Ôn(1779). Người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất là ông Bàn Tử Quang và đỗ khi tuổi mới 13, trẻ nhất là Nguyễn Hiền. Qua văn bia chúng ta vẫn thấy có những vị danh nhân vẫn được lưu truyền như nhà sử học Ngô Sĩ Liên đỗ tiến sĩ năm 1442, nhà ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm……nhìn vườn bia các bạn có thể thấy nhiều tấm bia với kiến trúc khác nhau bởi chúng được làm trong thời gian khác nhau.

    Các bia khắc vào thế kỷ 15 có 14 chiếc, những tấm khắc vào thế kỷ 17 có 25 chiếc, những tấm bia loại ba được xây dựng vào thế kỷ 18. Ngoài ra còn có một số bia không thuộc loại nào. Các bạn có thấy những hàng chữ bị xóa trên bia không ạ? Đó là do khi triều Nguyễn lên cầm quyền do có những mâu thuẫn với triều đình trước đã cho xóa đi. Nếu ta tính từ khoa thi Nhâm Tuất (1442) tới khoa thi Đinh mùi 1789 thì phải có 124 kỳ thi và phải có 117 bia tiến sĩ. Nhưng sau bao chiến tranh thì hiện nay chỉ còn 82 bia.

    Vâng, tôi và các bạn vừa được tham quan khu nhà bia một niềm tự hào của nền văn hoá Việt. Và sau đây xin mời các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ tư của văn miếu đó là Đại Trung Môn và Nhà Đại Bái.

    Đại Trung Môn là khu vực chính thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết bao gồm Đại Thành, nhà Đại Bái và hai dãy Đông Vu, Tây Vu.

    Cửa Đại Thành 3 giam 2 cột hiên trước và sau giống như cửa Đại Trung một hang giữa đỡ xà nóc, ba gian đều được lắp của gỗ sơn đỏ trên có hoạ tiết rồng, mây. Gian giữa đề ba chữ: Đại Thành Môn. Cửa Đại Thành là cửa của sự thành đạt lớn lao mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính mang một cái tên đấy ý nghĩa về học vấn, đạo đức. Hai bên cổng đại thành có 2 cửa phụ: kim thanh ở phía đông và ngọc chấn ở phía tây. Đây là 2 lối vào sân đại bái và điện đại thành, bởi ở đây trước kia chỉ tế Khổng Tử thì cổng đại thành mới mở. Chúng ta đang đứng trên sân đại bái, trước mặt là tòa đại bái và điện đại thành, 2 bên là dãy nhà đông vu và tây vu. Hai dãy nhà này đều gồm 9 gian. Trước đây 2 bên đều xây 5 bệ, trên có 5 khám bài thờ Thất Thập nhị hiền -đều là học trò của Khổng Tử. Kiến trúc cũ đã bị phá vỡ vào năm 1946, kiến trúc hiện nay đã được xây dựng lại năm 1954. Hiện nay ở đây trưng bày phòng tranh và bán đồ lưu niệm. Tòa Bái Đường là nơi tổ chức các nghi thức tế lễ, do vậy ở chính giữa đặt một hương án trên bày đồ thờ. Hai bên hương án có 2 con hạc đứng trên lưng rùa. Hạc là biểu hiện cho sự tinh túy, thanh cao. Hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện cho sự hài hoà giữa trời và đất, giữa hai cực âm dương. Hình ảnh hạc đứng trên lưng rùa còn thể hiện long thủy chung, biết tương trợ giúp đỡ nhau của những người bạn tốt khi gặp khó khăn. Phía trên hương án có bức hoành phi: “Vạn Thế Sư Biểu”-người thầy tiêu biểu của muôn đời. Bốn chữ này do vua Khang Hy tặng cho Khổng Tử. Ở gian đầu hồi phía đông còn bức hoành phi “cổ kim nhật nguyệt” và chuông bích ung đều cửa tư nghiệp Quốc Tử Giám quận công Nguyễn Nghiễm là cha của Nguyễn Du làm 1768. Bây giờ chúng ta tiếp tục đến với Điện Đại Thành.

    Điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập Triết.

    Gian chính là nơi thờ Khổng Tử. Khổng Tử (551-479TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Quốc. Ông sinh tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ(nay là huyện Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Khổng Tử là người sáng lập ra đạo nho ở Trung Quốc. Chủ yếu dạy về đạo làm người. Trong khi Đức Khổng Tử được người đời tôn là Vạn Thế Sư Biểu thì Tứ Phối là các học trò của ông lại được phối hợp thờ tại các Văn Miếu ở Trung Quốc và Việt Nam. Họ là Nhan Hồi ,Tăng Sâm, Tử Tư và Mạnh Tử.

    Theo cánh tay tôi, các bạn đang nhìn thấy tượng thờ Nhan Tử – là học trò giỏi nhất của Đức Khổng Tử, đứng đầu trong khoa đức hạnh của Khổng. Được người đời xưng tụng là Phục Thánh Nhan Tử.

    Cạnh là Thuật Thánh Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử). Tử tư không theo học trực tiếp với ông nội mà theo học Tăng Tử-một học trò của Khổng Tử. Tử Tư tạo nên một phái lớn trong Nho Giáo là phái Tử Tư.

    Đối diện là tượng thờ Tông Thánh Tăng Tử và Á Thánh Mạnh Tử.

    Là học trò duy nhất hiểu được đạo Nhất quán của Khổng Tử và viết nên sách Luận Ngữ. Tăng Tử cũng được đời sau tôn lên làm gương hiếu thứ 3 trong nhị thập tứ hiếu.

    Mạnh Tử là học trò của Tử Tư. Ông là người soạn sách mạnh tử và lập ra thuyết tánh thiện(nhân chi sơ tánh bổn thiện). Người ta tôn Mạnh Từ là bậc thánh đứng hạng thứ nhì dưới Khổng Tử.

    Hai gian đầu hồi là 10 bia đá bài vị Thập Triết, là những người tiêu biểu cho 4 khoa: Đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học.

    Nhà tiền đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, là nơi tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, văn hóa, nghệ thuật dân tộc.

    Hậu đường là nơi thờ Chu Văn An-một ngườithầy đức cao vọng trọng. Ông đỗ thái học sinh đời Trần nhưng không lên làm quan mà về quê dạy học, ông đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Dưới triều Trần Minh Tông ông được mời ra dạy học cho thái tử Trần Vượng. Đến triều vua Trần Dụ Tông, gian thần lộng hành, bị từ chối Thất Trảm sớ ông đã từ quan về ở ẩn tại Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương). Năm 78 tuổi, ông được truy tặng tước Văn Trinh Công ban tên thụy là Khang Tiết và cho thờ ở Văn Miếu.

    Theo tay tôi là 2 mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám xưa và nay.

    Văn Miếu ngày xưa có diện tích rộng, bao gồm toàn bộ khu vực của bệnh viện Sanh pôn và Bảo Tàng Mỹ Thuật hiện nay và cả khu hồ văn rộng lớn.

    Mời các bạn đến xem mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Cùng với sự phát triển của đất nước thì khu vực này đã bị thu hẹp. Hiện nay diện tích của Văn Miếu-Quốc Tử Giám chỉ còn 54331m2. Còn kiến trúc được giữ lại trên nền đất nhà Thái Học gồm 2 tầng tầng 1 thờ Chu Văn An. Tầng 2 là nơi thờ 3 vị vua có công trong việc tu sửa và xây dựng Văn Miếu-Quốc Tử Giám là Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta. Trước đây chỉ có các vị Thái tử được học sau đó mở rộng quy mô hơn .Thời gian học tập là 3 năm, các thí sinh phải trải qua 3 cuộc thi :hương, hội, đình.

    Xin mời các bạn đến với tầng 2 của nhà Thái Học.

    Ở gian chính giữa thờ vua Lý Thánh Tông sinh năm 1023 ở ngôi được 17 năm, thọ 50 tuổi. Ông là người đổi tên nước ta từ Đại Cồ Việt sang Đại việt.

    Bên tay phải các bạn là bàn thờ Lý Nhân Tông. Ngài là người học trò đầu tiên của Quốc Tử Giám(khi ông chỉ mới lên 5). Lý Nhân Tông sinh năm 1066 mất năm 63 tuổi. Ông ở ngôi được rất lâu(56 năm). Năm 1076 ông đã cho phép triều đình lập ra Quốc Tử Giám và cho chọn những hiền tài vào đào tạo, phục vụ cho đất nước.

    Bên tay trái các bạn là tượng thờ vua Lê Thánh Tông. Ông là người kế thừa và nâng cao tầm vóc của Quốc Tử Giám. Ông lên ngôi được 38 năm, được người đời đánh giá là minh mẫn, sáng suốt, thâm tuý về văn, giỏi giang về võ …

    Ba vị vua là tinh hoa của thời kỳ phong kiến Việt Nam khi biết lấy sự học làm cái gốc cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

    Vâng thưa các bạn,vậy là tầng 2 của nhà Thái Học đã kết thúc buổi tham quan di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám của chúng ta ngày hôm nay.

    Tôi và các bạn đã cùng nhau đến với những giá trị nhân văn ý nghĩa, độc đáo, truyền thống hiếu học của dân tộc Việt ta. Đặc biệt là 82 tấm bia tiến sĩ, niềm tự hào của tinh hoa trí tuệ Việt Nam.

    Qua buổi tham quan này các bạn đã có được những kiến thức về nền giáo dục Việt Nam đồng thời nâng cao niềm tự hào của nòi giống tiên rồng.

    Vâng,và trước khi kết thúc buổi tham quan xin hỏi có bạn nào có thắc mắc gì không, hướng dẫn viên sẽ giải thích trong tầm hiểu biết.

    Xin chào và hẹn gặp lại !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Và Kinh Nghiệm Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Hướng Dẫn Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Những Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Ở Thủ Đô Hà Nội
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Ở Hà Nội
  • Nhiệm Vụ Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì?
  • Kinh Nghiệm Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Nhánh Hải Dương
  • Văn Hóa Ứng Xử Trong Du Lịch Việt Qua Góc Nhìn Của Du Khách
  • Cách Làm Nước Sốt Bánh Mì Thổ Nhĩ Kỳ Đậm Đà, Ăn Là Ghiền
  • Cách Làm Nước Sốt Bánh Mì Doner Kebab Ngon Tuyệt
  • Cách Làm Nước Sốt Bánh Mì Thổ Nhĩ Kỳ Đặc Biệt Thơm Ngon
  • Nguyễn Quang Trung

    Travel Expert 28/02/2021

    Văn Miếu Quốc Tử Giám là quần thể di tích lịch sử phong phú, đa dạng hàng đầu của thủ đô Hà Nội nói riêng và nước Việt Nam nói chung. Với những ý nghĩa lịch sử và văn hóa quan trọng, Văn Miếu là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam.

    Văn Miếu Quốc Tử Giám là quần thể di tích lịch sử phong phú, đa dạng hàng đầu của thủ đô Hà Nội nói riêng và nước Việt Nam nói chung. Với những ý nghĩa lịch sử và văn hóa quan trọng, Văn Miếu là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam.

    Văn Miếu Quốc Tử Giám có địa chỉ tại số 58 phố Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có vị trí đắc địa nơi giao thoa 4 tuyến phố trung tâm của quận Đống Đa, Văn Miếu là nơi lưu giữ dấu ấn lịch sử văn hóa ngàn năm cổ kính và trang nghiêm, tĩnh mịch giữa lòng thủ đô, là địa điểm du lịch Hà Nội nổi tiếng.

    Được khởi công xây dựng từ tháng 8 năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông, Văn Miếu ngoài chức năng thờ các bậc thánh nhân của Đạo Nho còn là một trường học hoàng gia đầu tiên – nơi dạy dỗ các Hoàng thái tử. Học trò đầu tiên của trường học hoàng gia này là Thái tử Lý Càn Đức tức vua Lý Nhân Tông. Năm 1076, chính người học trò đầu tiên này sau khi lên ngôi đã cho lập trường dạy học ở bên cạnh Văn Miếu. Trường chỉ dành riêng cho con của các bậc vua quan quyền quý nên được đặt tên là Quốc Tử Giám.

    Năm 1253 dưới thời vua Trần Thái Tông, trường Quốc Tử Giám được đổi tên thành Quốc học viện. Vào thời này trường học được mở rộng và thu nhận cả con cái của thường dân tới học chỉ cần có sức học vượt trội xuất sắc. Thời vua Trần Minh Tông (1300 – 1357), Chu Văn An được mời giữ chức Quốc tử giám tư nghiệp tương đương với chức hiệu trưởng ngày nay. Ông có nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động của Quốc Tử Giám và trực tiếp dạy học cho Thái tử Trần Vượng.

    Năm 1484, nhà vua Lê Thánh Tông tổ chức khoa thi và cho dựng bia của những người thi đỗ Tiến sỹ. Tới thời Nguyễn, trường Quốc Tử Giám được xây dựng tại Huế, kể từ đó Văn miếu Thăng Long được cho sửa sang tu sửa thành Văn Miếu Hà Nội và được gìn giữ cho tới tận ngày nay.

    Quần thể khu di tích Văn Miếu là một khu đất hình chữ nhật rộng lớn có diện tích 54,331m2 mang đậm kiến trúc xây dựng thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên Văn Miếu được bao bọc bởi 4 bức tường gạch vồ kiên cố.

    Văn Miếu được thiết kế theo bố cục Nho giáo đăng đối từng lớp, từng khu theo trục Bắc Nam. Từ phía cổng lớn đi vào là tứ cột trụ và hai bia Hạ mã hai bên. Đi vào phía trong các khu vực Nội Tự được ngăn cách bởi hồ nước, sân đình rộng hay lối đi với khoảng không rộng 2 bên. Trước khi vào mỗi khu bạn sẽ bước qua hệ thống cửa bao gồm một cửa chính và hai cửa phụ hai bên. Tất cả các cửa cổng ra vào các khu Nội Tự, miếu, điện thờ, nhà Thái Học đều được thiết kế mái nóc với đôi rồng chầu mặt nguyệt mang đậm phong cách kiến trúc phương Đông cổ xưa.

    Để đến được Văn Miếu Quốc Tử Giám du khách có thể lựa chọn một trong các cách như sau:

    Văn Miếu Quốc Tử Giám mở cửa tất cả các ngày trong tuần kể cả ngày nghỉ cuối tuần hay lễ tết. Giờ mở cửa là 7h30 vào mùa đông, 8h vào các mùa khác còn giờ đóng cửa là 18h.

    Giá vé tham quan Văn Miếu là 30 nghìn đồng/người/lượt vào thăm. Nếu thuộc một trong các đối tượng sau giá vé sẽ được miễn phí hoặc giảm giá 50%:

    6. Hướng dẫn tham quan Văn Miếu

    Để tham quan Văn Miếu trọn vẹn và đầy đủ nhất, du khách nên tham quan theo tuần tự các địa điểm như sau:

    6.1. Hồ Văn

    Nằm ngay phía trước cổng của Văn Miếu, hồ Văn hay còn gọi là hồ Giám hoặc hồ Minh Đường là điểm cần tham quan đầu tiên khi đến thăm Văn Miếu. Theo sử sách ghi chép lại hồ Văn là một công trình hồ rộng lớn, rộng tới 1 vạn chín trăm thước nằm trong tổng thể khu du tích Văn Miếu. Giữa lòng hồ Văn là gò Kim Châu. Phán Thủy Đường được xây dựng trên gò Kim Châu. Phán Thủy Đường là nơi diễn ra các buổi bình văn chương của các nho sĩ kinh thành xưa.

    Do bị bỏ sót trong phân cách địa giới hành chính cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Hồ Văn ngày nay chỉ còn diện tích khoảng 12,297 m2. Tuy nhiên với ý nghĩa lịch sử văn hóa lớn lao, Thành phố Hà Nội đã chủ trương lập đề án tôn tạo, khôi phục gò Kim Châu, bảo tồn Hồ Văn và đưa vào danh sách các di tích thuộc tổng thể khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám.

    6.2. Văn Miếu Môn

    Văn Miếu Môn là cổng tam quan phía ngoài của khu di tích. Gồm có 3 cửa với cửa được xây 2 tầng cao to. Tầng trên có ba chữ Văn Miếu Môn bằng chữ Hán cổ xưa. Nằm ở phía trước Văn Miếu môn là tứ trụ nghi môn ở giữa và hai tấm bia Hạ mã hai bên. Tương truyền rằng xưa kể lại dù là khanh tướng hay công hầu khi đi qua Văn Miếu đều phải hạ võng, xuống xe ngựa đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia rồi mới lại đi tiếp. Như vậy đủ để hiểu Văn Miếu có vị trí tôn nghiêm trang trọng và có ý nghĩa lớn lao tới mức nào.

    6.3. Đại Trung Môn

    Đại Trung Môn là cổng thứ hai của Văn Miếu đi thẳng vào qua cổng chính Văn Miếu Môn. Đại Trung Môn gồm 3 gian được xây trên nền gạch cao và lợp ngói mũi hài theo phong cách mái đình thời xưa. Trước và sau Đại Trung Môn là không gian rộng lớn đầy cây cỏ, hồ nước, những con đường nhỏ song song nối dài tạo nên cảm giác thâm nghiêm, thanh nhã, tĩnh mịch của chốn “văn vật sở đô”.

    6.7. Đền Khải Thánh

    Đền Khải Thánh là công trình nằm sau cùng của khu di tích Quốc Tử Giám xưa kia. Đây là nơi thờ tụng cha mẹ Khổng Tử là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị. Khu này thời trước là khu cư xá với 150 gian phòng dành cho giám sinh hay còn gọi là khu Thái học nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại. Tuy nhiên đến năm 1946 trong một lần bắn phá đại bác của thực dân Pháp khu này đã bị phá hủy toàn bộ. Sau đó Đền Khải Thánh được cho xây dựng mới và được bảo tồn cho đến ngày nay.

    Khi đi tham quan Văn Miếu du khách nên đặc biệt lưu ý những điểm sau:

    Theo kinh nghiệm tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám, thời gian tham quan di tích này chỉ mất từ 1 đến 3 tiếng. Vì vậy du khách nên có một lịch trình tham quan thêm các điểm khác gần Văn Miếu như ga Hà Nội, chùa Quán Sứ, di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò hoặc Tháp Hà Nội…

    Đăng ký nhận ngay khuyến mãi

    Thông tin khuyến mãi mỗi tháng sẽ được gửi vào inbox cho các chuyến đi của bạn

    © 2022 – 2022 Bản quyền thuộc về chúng tôi CÔNG TY TNHH DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG JUSTFLY Số 15, ngách 102/28, Phố Hoàng Đạo Thành, Phường Kim Giang, Quận Thanh Xuân, Hà Nội Hotline: 0968 368 678 – Mail: [email protected] – Mã số thuế: 0107326124

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Và Những Điều Bạn Cần Biết
  • Tại Sao Bạn Nên Trở Thành Một Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Ước Mơ Của Tôi Là Được Trở Thành Một Hướng Dẫn Viên Du Lịch. Bởi Vì Tô Dịch
  • Khát Nhân Lực Ngành Du Lịch
  • Nhu Cầu Nhân Lực Đối Với Khối Ngành Du Lịch Của Tp Hcm Giai Đoạn 2013
  • Giới Thiệu Và Kinh Nghiệm Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Hành Trình Chạy Trốn Của Kẻ Giết Người Tình, Vùi Xác Chết Khô Dưới Hố Sâu
  • Hành Trình Trốn Chạy Của Kẻ Khát Tình
  • Điều Tra Vụ Xác Chết Lõa Thể Của Nữ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Những Yếu Tố Cần Thiết Để Trở Thành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Văn Miếu nằm ở khu vực quận Đống Đa, Hà Nội, ngay giữa 4 phố chính gồm Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Du lịch đến với Hà Nội ngàn năm văn hiến thì đây chắc chắn là địa điểm mà bạn nên ghé thăm.

    Nếu đi bằng xe bus, các bạn đi những tuyến sau sẽ có những điểm dừng ngay gần khu vực này: 02, 23, 38, 25, 41.

    Hiện nay, khách du lịch và người dân vào tham quan Văn Miếu phải mua vé vào cổng. Giá vé dành cho người lớn là 20.000đ và vé trẻ em là 10.000đ. Đây là mức giá khá rẻ và áp dụng chung cho cả khách Việt Nam lẫn khách nước ngoài.

    Văn Miếu được xây dựng năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông, là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập thêm Quốc Tử Giám bên cạnh là trường đại học dành riêng cho con vua và các gia đình quý tộc. Đến thời vua Trần Thái Tông, Quốc Tử Giám được đổi tên thành Quốc học viện và thu nhận cả con cái nhà thường dân có sức học xuất sắc.

    Sang thời hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông bắt đầu cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ. Tới thời Nguyễn, Quốc Tử Giám được lập Huế. Văn miếu Thăng Long được sửa sang lại chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội.

    Quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện tại nằm trong khuôn viên rộng 54331 m2, bao gồm nhiều công trình kiến trúc nhỏ khác nhau. Bao bọc khuôn viên là những bức gạch vồ. Trải qua nhiều tu sửa, quần thể di tích này bao gồm Hồ Văn, Văn Miếu môn, Đại Trung môn, Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, bia tiến sĩ, Đại Thành môn, nhà Thái Học.

    Nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người. Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn miếu thờ Khổng Tử ở Trung Quốc, tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.

    Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh. Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa. Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau.

    Cổng chính Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch. Bên trong cũng có những bức tường ngăn ra làm 5 khu, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng qua lại nhau.

    Bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.

    Từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn các. Khuê Văn các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85cm x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp.

    Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng.

    Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời tỏa tia sáng. Hai bên phải trái Khuê Văn các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sĩ.

    Khuê Văn các ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.

    Gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng rùa đá. Hiện còn 82 tấm bia của các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đó là những di vật quý nhất của khu di tích.

    Là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Tòa nhà ngoài là Bái đường, Tòa trong là Thượng cung. Đây là khu vực thờ Khổng Tử và Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử).

    Đây là khu nhà Thái Học. Thời Nguyễn trường Quốc Tử Giám ở Hà Nội bị bãi bỏ, nhà thái học bị đổi làm nhà Khải thánh, thờ thân phụ, thân mẫu của Khổng Tử. Tuy nhiên khu nhà này đã bị phá hủy trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Khu nhà Thái Học mới được thành phố Hà Nội xây dựng lại năm 1999. Trong khu thứ năm này còn có nhà Tiền đường – Hậu Đường, là nơi thờ các vị vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An.

    Ý nghĩa của Văn Miếu Quốc Tử Giám

    Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là trường đại học đầu tiên của nước ta mà còn như một ngọn nến luôn rực cháy, thắp sáng truyền thống hiếu học của người Việt. Đến nơi đây bạn dường như được tiếp thêm động lực từ những bảng vàng rực rỡ của ông cha, nạp vào nguồn năng lượng tràn đầy để vững tin trong hành trình nỗ lực học tập và khám phá tri thức nhân loại.

      Tôn trọng di tích, chấp hành quy định của đơn vị quản lý di tích. Không xâm hại đến các hiện vật, cảnh quan di tích. Không xoa đầu rùa, viết, vẽ, đứng, ngồi lên bia Tiến sĩ…
      Trang phục khi tới Văn Miếu nên sạch sẽ, gọn gàng. Không nên mặc váy hoặc quần quá ngắn, trang phục hở hang hay trang phục trong nhà. Không hút thuốc, đội nón, đội mũ trong khu vực Điện thờ, nhà trưng bày…
      Thực hiện nếp sống văn minh nơi thờ tự: Không có hành vi thiếu văn hóa, nói tục, gây mất trật tự an ninh; Có thái độ đúng mực khi hành lễ, mỗi người chỉ thắp một nén hương; Dâng lễ, thắp hương đúng nơi quy định.
    • Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cảnh quan môi trường: Không trèo tường, trèo cây, bẻ cành, hái hoa, giẫm lên thảm cỏ, câu cá, bơi lội, vứt rác bừa bãi.
    • Không mang vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào khu di tích.
      Để xe đúng nơi quy định, tự quản lý tư trang để tránh xảy ra mất mát.
      Các hoạt động quay phim tại Văn Miếu Quốc Tử Giám chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của lãnh đạo khu di tích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Tham Quan Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Những Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Ở Thủ Đô Hà Nội
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Ở Hà Nội
  • Nhiệm Vụ Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch Là Gì?
  • Trở Thành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Giỏi
  • Bài Thuyết Minh – City Tour Hà Nội – Văn Miếu Quốc Tử Giám

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Tnhh Hướng Dẫn Viên Du Lịch Việt Nam
  • Hỏi Chuyện Bà Công Chúa Làm Du Lịch
  • Cách Làm Nước Sốt Bánh Mì Thổ Nhĩ Kỳ Tuyệt Ngon!!!
  • 8 Cách Buộc Dây Giày Giấu Dây Từ Đơn Giản Đến Độc Đáo Nhất
  • Cách Reset Windows 10, 7 Đơn Giản, Không Mất Dữ Liệu 2022
  • Bài thuyết minh – City tour Hà Nội – Văn Miếu Quốc Tử Giám

    V. Văn miếu Quốc Tử Giám

    Kính thưa quý khách, điểm đến tiếp theo trong chuyến du lịch đầy ý nghĩa “Hà Nội – những dấu ấn vàng son” của chúng ta hôm nay sẽ là Văn Miếu Quốc Tử Giám – Nơi thờ Khổng Tử, trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.

    Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại la, lập lên kinh đô Thăng Long – đế đô muôn đời.

    Để xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ và hưng thịnh cần phải có hệ thống triết học làm nền tảng, một thể chế tổ chức xã hội vững mạnh và một nền giáo dục tiên tiến để đào tạo nhân tài cho đất nước.

    Đáp ứng nhu cầu đó, nhà Lý đã chọn Nho giáo, một học thuyết chính trị, đạo đức đã ra đời trước thời đó hơn 1500 năm, đã góp phần to lớn tạo lập nên nước Trung Hoa trật tự, kỷ cương với nền văn hoá phát triển rực rỡ và đã được du nhập vào nước ta từ lâu.

     

    Sự kiện mở đầu cho quá trình lựa chọn đó được trịnh trọng ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư :“Năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ thứ hai (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu, tháng Tám, dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất Thập Nhị hiền, bốn mùa cúng tế. hoàng Thái Tử đến học ở đó”. Năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài và năm 1076 vua Lý Nhân Tông đã cho lập Quốc Tử Giám – Ban đầu đây là trường học dành riêng cho con em trong hoàng tộc, con em các vị đại thần quan lại trong triều đình, sau mới mở rộng đến đến các tầng lớp nhân dân bên ngoài.

    Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm Hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám.

    • Hồ Văn

    Trước mặt Văn Miếu là Hồ Văn với diện tích 12.247m2, giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò có dựng Phán Thuỷ đường, là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa. Nhà Phán Thuỷ nay không còn nhưng trên gò hiện còn lại một tấm bia dựng năm Tự Đức 18 (1865) trong dịp tu sửa Văn Miếu và nạo vét Hồ Văn do Hoàng giáp khoa Tân Hợi, bố chánh Hà Nội Lê Hữu Thanh soạn. Sau này, trong thời Pháp thuộc, Tứ Trụ bị chia cắt với Hồ Văn bởi phố Quốc Tử Giám chạy ngang, như quý vị đang nhìn thấy. Và do điều kiện thời gian không cho phép, điểm đến chính của chúng ta hôm nay sẽ là khu nội tự Văn Miếu Quốc Tử Giám, còn khu Hồ Văn xin được hân hạn giới thiệu tới quý vị vào một dịp khác.

     

     

    • Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám

    Quý khách đang đứng trước “Văn Miếu – Quốc Tử Giám” – Kiến trúc chủ thể của di tích. Chúng ta thường gọi chung chung công trình này là Văn Miếu Quốc Tử Giám, nhưng đây thực chất là hai công trình được xây dựng vào hai thời điểm khác nhau. Công trình thứ nhất – Văn Miếu chính là nơi thờ Văn Tuyên Công hay là Văn Tuyên Vương, chính là Khổng Tử, được Lý Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1070. Lý Thánh Tông là Lý gia đệ tam đế – phụ hoàng của Lý Nhân Tông (Lý gia đệ tứ đế). Và chính Lý Nhân Tông là người cho xây công trình thứ 2 – Quốc Tử Giám năm 1076. Do đó chúng ta có một tổ hợp kiến trúc vừa để thờ Khổng Tử, vừa để làm trường Đại học đầu tiên của nền văn hóa và khoa học dân tộc chúng ta. Ghép lại thành Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

    Văn Miếu – Quốc Tử Giám được chia làm 5 khu rõ rệt, song liên hoàn với nhau theo một tổng thể kiến trúc hài hoà qua trục đường thần đạo nối từ đầu đến cuối khuôn viên. Khuôn viên có chiều dài 31 thước, chiều rộng 46 thước. Mặt chính của công trình quay về hướng Nam theo quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi trị thiên hạ” (bậc Thánh nhân quay mặt về phương Nam để cai trị thiên hạ).

    Khu tiền án là khoảng không gian mở ra phía trước tạo cho Văn Miếu dáng vẻ bề thế, uy nghi. Khu này được bắt đầu bằng tứ trụ (nghi môn) và hai tấm bia Hạ Mã ý nghĩa ở hai bên mà chúng ta vừa thấy.

    Quý khách đang đứng trước “tứ trụ” – Cổng chính của Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trước đây tứ trụ nằm soi bóng xuống mặt Hồ Văn trong xanh theo quan niệm phong thuỷ Á Đông “âm – dương đối ngẫu” thường được thể hiện ở các kiến trúc tôn giáo. Tứ trụ xây bằng gạch, hai cột giữa xây cao hơn, trên có hình hai con nghê chầu vào. Nghê là con vật biểu trưng mang yếu tố huyền thoại, dũng mãnh, thiên biến vạn hóa, tượng trưng cho trí tuệ, là biến thể từ sư tử và chó dữ, có sức mạnh như chúa tể muôn loài. Quan niệm tâm linh cho rằng đây là con vật linh thiêng có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi hình bốn con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào nhau. “Nghê chầu phượng múa” là một môtif trang trí quen thuộc thường được thấy ở các đình miếu cổ thể hiện sự thiêng liêng và vẻ hoa mỹ của di tích quý giá. Những câu đối đề ở Tứ Trụ đều có ý nghĩa ngợi ca đạo học trong chốn nhân gian:

    “ Cao vững mấy tầng chở chuyên biết bao đạo lý

    Ngóng trông vạn thưở nguy nga một trốn học đường”

    “Đông, tây, nam, bắc tư do đạo

    Công khanh, phu sĩ, xuất xuất thử đồ”

    Kính thưa quý khách, qua cổng Tứ Trụ, quý khách đang bước trên đoạn đầu của con đường thần đạo – đoạn nối giữa tứ trụ và tam quan.

    Tam quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám cao 2 tầng, 8 mái mở ra ba cửa biểu trưng cho cách nhìn của nhà Phật về 3 thế giới quá khứ – hiện tại – tương lai. Trên cổng Tam Quan có ba chữ đại tự “Văn Miếu Môn”, đỉnh đắp hình “lưỡng long chầu nguyệt” – một motif trang trí rất có ý nghĩa và khá quen thuộc tại các công trình kiến trúc cổ của Việt Nam. Có rất nhiều cách giải thích khác nhau cho hình tượng nghệ thuật độc đáo này. Rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hoá, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, ly, quy, phượng”. Rồng tượng trưng cho sự phồn vinh và sức mạnh của dân tộc, cho uy quyền tuyệt đối của đấng thiên tử, của nhà nước phong kiến, trang trí rồng chỉ dùng ở những nơi trang trọng như cung vua, các công trình lớn của quốc gia hay các công trình tôn giáo. “Lưỡng long tranh châu” gồm hai con rồng nằm ngang hai bên, ở giữa là “quả cầu lửa” mà theo một số nhà nghiên cứu là “viên ngọc”. Dó đó, nó còn được gọi là “Rồng giỡn hột châu”, hoặc là “mặt trời” (nên gọi là lưỡng long chầu nhật), biểu hiện cho sức mạnh vương giả với chí khí tranh hùng tranh bá.

    Bên cạnh đó, hình tròn có ngọn lửa còn được giải thích là tượng trưng cho sấm sét, nguồn nước, bản thân rồng cũng gắn liền với mây mưa, mang đến mùa màng tươi tốt. Và như vậy, lưỡng long chầu nguyệt còn biểu trưng cho tín ngưỡng cầu mưa của người Việt – những cư dân nông nghiệp.

    Điểm đặc biệt trong motif trang trí “lưỡng long chầu nhật” của người Việt đó là viên ngọc không hoàn toàn chạm vào miệng rồng và rồng không ngậm nó. Viên ngọc là biểu trưng cho nhân văn, tri thức và lòng cao thượng. Điều đó cho thấy dân tộc ta luôn coi tri thức là vô hạn, những đức tính tốt đẹp là điều luôn phải học hỏi, rèn giũa. Đây là điểm khác biệt đối với trang trí rồng – ngọc của Trung Hoa. Rồng Trung Hoa luôn giữ viên ngọc ở chân thể hiện ý muốn làm chủ. Đây phần nào thể hiện sự khác biệt giữa hai nền văn hoá.

    Chính nhờ vẻ đẹp cân đối cùng với ý nghĩa sâu xa mà “lưỡng long chầu nhật” trở thành một đề tài trang trí rất phổ biến tại các công trình kiến trúc cổ tại Việt Nam và quý khách sẽ gặp lại nó trong nhiều hạng mục khác của di tích này.

    Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi rồng đá thời Nguyễn. Hai đôi rồng đó là hình tượng biểu trưng cho truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta: Các nho sĩ sau khi học thành tài, ra giúp đời, thành danh, quay trở lại thể hiện lòng tôn kính, biết ơn đối với thầy của mình.

    Bên trái cổng tam quan đắp hình “long ngư tụ hội” (cá rồng ẩn hiện trong mây) ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành tài. Bên phải là cảnh mãnh hổ hạ sơn (hổ lớn hùng dũng xuống núi) ngụ ý như những bậc thứ giả vững bước vào thời cuộc mới.

    Hai mặt cổng tam quan đều đắp nổi câu đối chữ Hán với ý nghĩa đề cao kết quả của sự học trong chốn nhân gian. Có câu mang đại ý:

    1. Áo mũ xênh xang nhà cửa bá quan như nước chảy

    Tam quan bề thế học đường bao lớp tựa núi cao

    2. Đại quốc bất dịch giáo, bất biến tục, thả tôn sùng chi, diệc tín tư văn nguyên hữu dụng

    Ngô nho yêu sthông kinh, yếu thức thời, vô câu cố dã, thượng tư thánh huấn vĩnh tương đôn

    (Nước lớn không thay nền giáo hoá, không biến đổi phong tục màtôn sùng đạo nho và tin tưởng tư văn vốn có ích.

    Nhà nho phải thông hiểu kinh sách, phải thức thời, không nên câu nệ, cố chấp, nghĩ rằng lời giáo huấn của thánh hiền mãi mãi được đề cao).

    3. Sỹ phu báo đáp vị hà tai, triều đình tuyển cựu tri ân, quốc gia sùng thượng chi ý.

    Thế đạo duy trì thị thử nhĩ, lễ nhạc y quan sở tuỵ, thanh danh văn vật sở đô.

    (Bậc thánh nhân phải báo đáp như thế nào ân tuyển chọn của triều đình, ý tôn sùng của quốc gia.

    Thế đạo phải duy trì như thế đấy, phải thấy nơi này là lễ nhạc, y quan, là nơi tập trung thanhdanh văn vật).

    Cổng chính của tam quan chỉ được mở cho các bậc môn quân đi trong các dịp đại lễ. Các môn sinh và thứ dân chỉ đi bằng hai cửa nhỏ hai bên.

    Khu nội tự của Văn Miếu thiêng liêng được ngăn cách với không gian bên ngoài bằng hệ thống tường gạch vồ vững chãi và chia thành năm lớp không gian khác nhau. Mỗi lớp không gian lại được giới hạn bởi một bức tường gạch chạy hết chiều ngang và có cửa thông nhau. Năm khu tương ứng với ngũ hành (kim – mộc – thủy – hỏa – thổ) theo quan niệm sự phối tác năm yếu tố cơ bản hình thành lên vũ trụ của triết học phương Đông cổ truyền.

    Quý khách đang ở lớp không gian đầu tiên giữa tam quan và cửa Đại Trung được gọi là “khu nhập đạo”. Nơi đây có hai khuôn hồ lớn ở vị trí như hai ao mắt rồng tại các khu đình chùa vùng nông thôn Bắc Bộ. Đường thần đạo chính giữa dẫn vào cửa chính của cửa Đại Trung. Song song với đường thần đạo là hai lối nhỏ dẫn thẳng đến hai cửa nhỏ nằm hai bên phải và trái của cửa Đại Trung mang tên cửa Thành Đức và cửa Đạt Tài với ý nghĩa sâu xa là đạo học sẽ đào tạo môn sinh thành những con người toàn diện có cả đức và tài, có khả năng đem tài đức ra thi thố trong xã hội để phục vụ triều đình và chúng dân muôn nhà. Trong năm lớp không gian của khu Văn Miếu Quốc Tử Giám, không gian khu nhập đạo mà quý khách đang đứng đây có cảnh quan môi trường tươi đẹp và thoáng đạt nhất. Bao gồm một hệ thống cây cổ thụ có tuổi đời vài trăm năm tuổi, các loại cây cho bóng mát và cho hoa nở suốt bốn mùa xuân, hạ , thu, đông. Cửa Đại Trung gồm ba gian, xây trên nền gạch cao, mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột chống hiên trước và hiên sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Cửa sơn màu đỏ biểu trưng cho sự thành đạt và may mắn

    Qua cửa Đại Trung, chúng ta sẽ đến với lớp không gian thứ ba của Văn Miếu Quốc Tử Giám được tiếp nối bởi gác Khuê Văn và hai cửa nhỏ Bí Văn và Súc Văn ở hai bên. Bí Văn và Súc Văn hàm ý ca ngợi những vẻ đẹp của văn chương: Súc tích, trau chuốt và sáng sủa.

    Gác Khuê Văn là lầu gác tám mái một nóc, thể hiện điểm cực dương, được xây dựng vào năm 1805 dưới thời Nguyễn Gia Long do quan tổng trấn Bắc thành – Nguyễn Văn Thành chỉ đạo thiết kế thi công. Gác được xây trên nền vuông cao lát gạch Bát Tràng, với kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo: Tầng dưới là bốn trụ gạch, bốn bề trống không, tầng trên là kiến trúc gỗ hai tầng, mái lợp ngói ống, trang trí bốn góc bằng đất nung. Sàn gỗ chừa ra một khoảng để bắc thang lên gác, bốn cạnh có diềm gỗ chạm trổ tinh vi. Bốn mặt gác trổ bốn cửa sổ tròn xung quanh có những thanh gỗ con tiện tượng trưng cho những tia của sao Khuê tỏa sáng.

    Tuy ra đời không cùng thời với các hạng mục khác trong Văn Miếu Quốc Tử Giám song như quý khách thấy, kiến trúc gác Khuê Văn rất hài hòa với tổng thể kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám và từ lâu đã trở thành một điểm nhấn kiến trúc thu hút sự chú ý của du khách trong và ngoài nước.

    Ba chữ đại tự “Khuê Văn Các” được đề cả ở mặt trước và sau của lầu gác. Xung quanh gác Khuê Văn đều có đề những đôi cấu đối ca tụng vẻ đẹp và ý nghĩa của đạo học và văn chương trong trời đất. Đại ý:

    “Sao Khuê sáng giữa trời nhân văn rạng tỏ

    Sông Bích đượm sắc xuân đạo học dài lâu”

    “Đời thịnh tô điểm nền văn trị

    Lầu gác lộng lẫy lưu giữ vẻ đẹp”

    “Khuê Văn” theo cách lý giải truyền thống về thiên thể là tên một ngôi sao trong chòm sao sáng nhất của bầu trời gồm 28 ngôi gọi là nhị thập bát tú. Trong sách “hiếu kinh” có ghí: “Sao Khuê chủ về văn chương, văn học, giáo dục, khoa cử”. Cho nên đặt công trình có tính chất biểu trưng, biểu tượng này vào đây, nội dung tư tưởng hoàn toàn phù hợp với Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Về mặt vật thể thì những đường nét kiến trúc và kiểu dáng kiến trúc cũng hoàn toàn hài hòa ăn nhập vào bối cảnh chung của vùng này. Hình mặt trời tượng trưng cho đạo học và những gì thiêng liêng cao cao quý.

    Gác Khuê Văn xinh xắn, kiến trúc giản dị, tao nhã, soi mình duyên dáng xuống mặt nước Thiên Quang Tỉnh tức giếng Ánh Sáng Mặt Trời càng làm tăng thêm vẻ đẹp của nó.

    Giếng Thiên Quang hình vuông, có lan can gạch bao quanh, quanh năm nước đâỳ, mặt nước phẳng lặng, vừa tạo một nhịp tiếp nối kiến trúc hài hòa nơi trung tâm cho tổng thể kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám, vừa có ý nghĩa như một hồ nước điều hòa không khí. Và giếng Thiên Quang còn đóng vai trò một mặt gương thiên nhiên rộng lớn và sáng tỏ. Theo quan niệm của người xưa, giếng hình vuông tượng trưng cho mặt đất xanh tươi, cửa sổ hình tròn của Khuê Văn Các và các tia sáng xòe rộng xung quanh tượn trưng cho mặt trời rực rỡ. Hàm ý nơi đây là chốn hội tụ tinh hoa của trời đất, ngụ ý đề cao một trung tâm văn hóa giáo dục lớn nhất và danh tiếng nhất của đất nước.

    Vườn bia :

    Khu vực vườn bia là một di tích có giá trị bậc nhất ở đây, gồm 82 bia, dựng ở 2 bên phải trái của Thiên Quang Tỉnh, mỗi bên có 41 tấm bia dựng thành hàng nằm ngang quay mặt về phía giếng ( 82 tấm bia này để ghi khắc họ tên, quê quán của 1307 vị tiến sĩ…).

    Ý tưởng dựng bia ghi tên các tiến sĩ được khởi sự từ đời Lê Thánh Tông (1484) – một vị hoàng đế tài cao, học rộng quan tâm đến việc xây dựng nền văn hóa dân gian của dân tộc và các đời vua kế tiếp đã cho dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giam nhằm mục đích biểu dương các Nho giáo sĩ đỗ đạt và khích lệ việc học hành thi cử. Ở hai khu vườn bia, mỗi bên có một tòa đình vuông, bốn mặt bỏ trống, nền cao giữa các bệ, cửa đều trông thẳng xuống giếng. Đây là hai tòa đình thờ bia. Xưa kia hàng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cũng sửa lễ vật cúng bái các vị tiên nho của nước ta mà quý tính cao danh còn khắc trên bia đá. 82 tấm bia tiến sĩ là những di vật quý giá, có giá trị bậc nhất của di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giam, là niềm tự hào của nền văn hóa giáo dục dân tộc đã tạo nên và lưu giữ được một pho “ Sử đá” có giá trị về mọi mặt. 82 tấm bia tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc, tuy kích thước khác nhau nhưng bia nào cũng được dựng trên lưng một con Rùa, cổ ngẩng cao, bốn chân xoài ra trong tư thế đang bò lên. Theo một số cách giải thích thì trong quan niệm của người Việt Nam thì Rùa từ xa xưa đã gắn với đất nước Việt Nam : Đó là thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, trong truyền thuyết Hồ Hoàn Kiếm, Rùa còn là sứ giả của Thủy Vương giúp Lê Lợi đại phá quân Minh… Rùa là con vật được hợp lại bởi cả âm và dương : bụng phẳng tượng trưng cho đất mang yếu tố âm, mai khum tượng trưng cho trời đất – mang yếu tố dương. Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa là chịu đựng và sống lâu vĩnh hằng. Bia đá dặt trên lưng Rùa nhằm khẳng định sự trường tồn của trí tuệ, của tinh hoa dân tộc. Đồng thời đó cũng là tấm gương nhắc nhở cho con cháu hôm nay và mai sau cùng học tập, phấn đấu theo gương ông cha ta thuở trước. 82 tấm bia ghi tên 1805 nhân vật, trong đó có 17 trạng nguyên, 19 bảng nhãn, 47 thám hoa, 284 hoáng giáp và 938 tiến sĩ.

    Qua văn bia, ta biết rõ được họ tên của các tiến sĩ mà ngày nay danh tiếng vẫn còn lưu truyền mãi như : nhà sử học Ngô Sĩ Liên – tiến sĩ năm 1442; nhà sử học, nhà quân sự, chính trị, văn hóa, nhà thuật học tài năng lỗi lạc Lê Qúy Đôn – khoa thi năm 1752, nhà ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm tiến sĩ khoa 1775…người đầu tiên được khắc tên trên bia đá là trạng nguyên Nguyễn Trực người xã Bối Khuê, huyện Thanh Oai, Hà Tây, đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Tuất niên hiệu Bảo Đại thứ Ba (1442) đời vua Lê Thánh Tông. Người cuối cùng được ghi trên bia đá là tiến sĩ Phạm Huy Ôn vào khoa thi Kỷ Hợi (1779) và cũng là khoa thi cuối cùng được dựng tại bia Văn Miếu – Quốc Tử Giam. Về sau, vào thời vua Gia Long và trong kinh thành Phú Xuân – Huế. Nhìn vào hai vườn bia, ta nhận thấy sự khác nhau giữa các bia – đó là do ở mỗi thời kỳ được khắc lại có những nét kiến trúc riêng cho mỗi loại : Những tấm bia được khắc vào thế kỷ 15 ( 14 chiếc) có trán bằng, mỏng, thấp, có hình hoa lá mây trăng, có ảnh hưởng của tam giáo Đồng nguyên. Trang trí hoa sen – ảnh hưởng của Phật giáo, con Rùa đầu hình chim, mắt có lông mày, mồm như mỏ chim, đầu ngẩng cao, đôi khi có răng, mai trơn, chân rụt lại. Những tấm bia được khắc vào thế kỷ 17 (25 chiếc). Trên bia có xuất hiện sừng tê, ngưu bát bảo ( Đạo giáo), bia có hình mặt nguyệt , kích thước cao. Có thể nói nghệ thuật chạm khắc ở đây đã tiến cao hơn một bậc. Bố cục cân xứng. Những tấm bia loại ba được xây dựng vào thế kỷ 18. Bia to cao, trang trí cách điệu nghệ thuật thì khô cứng, duy nhất có một tấm bia chạm khắc hình người và trâu, rùa có giống đầu Rùa thật, mai cong vồng lên, có gò sống lưng chạm hình sáu cạnh.Ngoài ra còn một số bia ngoại lệ, không thuộc phong cách nào cả.

    * Đại Thành Môn:

    Qua cửa Đại Thành là khu vực thứ 4 của Văn Miếu – đây chính là khu vực thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, bao gồm Đại Thành, nhà Bái Đường và hai dãy Đông Vũ và Tây Vũ.

    Cửa Đại Thành ba gian với hai cột hiên trước và sau giống nhau như cửa Đại Trung, một hàng giữa đỡ xà nóc, ba gian đều được lắp cửa gỗ sơn đỏ trên có họa tiết rồng, mây. Gian giữa treo bức hoành phi đề ba chữ “ Đại Thành Môn”. Cửa Đại Thành là cửa của sự thành đạt lớn lao mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính mang một cái tên đầy ý nghĩa về học vấn, đạo đức.

    Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng lát gạch Bát Tràng. Hai bên chân là hai dãy nhà Tả – Hữu vu. Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường lớn, rộng và thâm nghiêm, trải suốt chiếu rộng nối với đầu hồi của Tả – Hữu vu tạo thành hình chữ U rất cổ kính và truyền thống. Sau Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện bằng một tiểu hình vuông. Nếu tách riêng ba cụm kiến trúc này ra thì chúng được xây theo hình chữ Công (I) mà tiểu đình chính là nét giữa Đại Bái và Tòa Thượng Điện là hai nét ngang trên và dưới.

    Tòa Bái Đường gồm chín gian với bốn cột chồng mái, chồng rường, bịt hai đầu mái ngói mũi hài, trên đắp nổi hai con Rồng chầu nguyệt. Hai gian đầu hồi mặt trước và mặt sau là cửa gỗ gắn song con tiện, phía dưới là nững bức phù điêu gỗ thời Lê khắc nổi hình Rồng bay cao rất đẹp. Toàn bộ cột gỗ tàu trên mái đều được sơn son thiếp vàn, hai hàng cột ở giữa có trang trí mới đây vào năm 1994 lợp lại ngói, năm 1995 sơn thiếp các kết cấu gỗ. Đây là nơi dùng để tổ chức các nghi lễ lớn. Do vậy, chính giữa tòa Đại Bái đặt một hương án lớn, trên bày đồ thờ. Phía trên hương án có bức hoành phi ” Vạn Thế Sư Biểu” tức ” Người thày của muôn đời” được làm vào năm 1888 trong lần tu sửa Văn Miếu. Ở gian đầu hồi phía Đông treo bức hoành phi ” Cổ kim nhật nguyệt” tức ” Ánh sáng muôn thủa” và chuông Bích Ung đều của tư Nghiệp Quốc Tử Giam quân quận công Nguyễn Nghiễm ( cha của đại thi hào Nguyễn Du) – 1768.

    Điện Đại Thành chạy song song với nhà Đại Bái. Điện gồm chín gian, xây kín ba mặt, phía trước có cửa – bức màn đóng kín 7 gian giữa, hai gian đầu hồi có cửa có chắn song có con tiện cố định mang phông cách kiến trúc thời Lê. Điện là nơi thờ Khổng Tử và Tứ Phối. Gian chính là tượng Khổng Tử quay mặt về hướng Nam, phái sau là khám thờ trên có ngai và bài vị “Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử Bài Vị”. Tư thế tay của Khổng Tử là thế tay của một người trên khoan thai lắng nghe người dưới trình bày, tâu bẩm một vấn đề nào đó. Trước mặt là mười chiếc giáo, trên chuỗi giáo là phía trái của Khổng Tử có đề chữ “ tránh ra”, trên phía phỉa chuỗi giáo đề chữ “ Một người nghiêm túc”. Trên mỗi bàn thờ có hình hai con hạc – Đó là ngựa của Đạo sĩ để lên trời. Trước bàn thời của Khổng Tử có hai con Voi – Đó là biểu tượng cho sức mạnh chân lý tuyệt đối.

    Tòa Đại Bái và Điện Thánh là nơi các triều đại Lý, Trần, Lê hàng năm Xuân thu hai lần chọn ngày Đinh thứ hai và thứ tám để tế lễ do vua làm chủ tế hoặc các Hòang Thân, đại thần tế. Khi Kinh đô chuyển vào Huế hàng năm ở Văn Miếu Bắc Thành do quan Tổng đốc tiến hành nghi thức tế lễ. Hai dãy Đông Vu và Tây Vu ở hai bên sân Đại Bái đều gồm chín gian, trước đây mỗi dãy đều xây dựng lại vào năm 1954.

    Thưa quý khách chúng ta đã thăm xong điện thánh, sau điện thánh có cổng dẫn sang nhà Thái Học – Khu thứ 5 của di tích này. Và bây giờ chúng ta sẽ đi thăm khu di tích này.

    Thưa quý khách! Việc dựng tượng thờ 4 vị danh nhân không chỉ nhằm tưởng nhớ những người có công lập Văn Miếu – Quốc Tử Giám mà còn nhằm tôn vinh truyền thống hiếu học của dân tộc ta.

    Thưa quý khách! Vua Lý Nhân Tông (1023 – 1072) là người đặt quốc hiệu Đại Việt và là vị vua có công khai sáng và đặt nền móng cho nền giáo dục nho học khoa cử Việt Nam, mặc dù thời Lý luôn được coi là thời kỳ tam giáo đồng nguyên trong đó Đạo Phật phát triển hơn cả, nhưng để tồn tại, phát triển và củng cố chế độ, thì phải có sự cải tổ phật giáo và phát triển nho giáo. Năm 1070 vua Lý Thánh Tông(1066-1072) cho xây dựng Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và vẽ tranh 72 vị hiền sĩ để thờ với mong muốn khai hóa cho dân và thể hiện sự coi trọng của nhà vua đối với hiền tài. Vua còn cho hoàng tử đến đây để học hàng ngày. Vua Lê Thánh Tông chính là người sáng lập ra Văn Miếu và là người đặt nền móng cho Quốc Tử Giám ra đời.

    Vua Lý Nhân Tông chính là vị hoàng tử được đến học tại Văn Miếu Và sau này là người sáng lập ra Quốc Tử Giám – trường Đại học đầu tiên của nước ta và là người mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam, đó là kỳ thi “Minh kinh bác học”

    Vua Lê Thánh Tông là người đã phát triển Văn Miếu – Quốc Tử Giám đến mức rực rỡ nhất: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng học hành thi cử và đều đặn mở 3 năm một lần kì thi hội tại kinh đô. Chính vua Lê Thánh Tông là người cho dựng Văn bia tiến sỹ đâù tiên tại Văn Miếu (1484), sáng lập ra hội tao đàn gồm 28 tiến sỹ gỏi thơ văn nhất thời đó.

    Thưa quý klhách thật là thiếu xót nếu như đến thăm Văn Miếu mà không tìm hiểu xem hình thức và nội dung thi cử, cũng nhử thầy giáo và sinh viên đã từng học ở đây. Tôi xin được giới thiệu cho quý khách một vài nội dung sơ lược như sau:

    Chế độ thi cử của kinh thành Thăng Long từ khi có Văn Miếu – Quốc Tử Giám gồm ba kỳ:

    – Thi Hương: Được tổ chức theo một vùng gồm nhiều Trấn hay Lộ do triều đình quy định. Thí sinh tham dự thi hương phải dự 4 kỳ thi: Kinh ngiã, thơ phú, chế chiếu biểu, văn sách. Dưới thời Lê người đỗ cả bốn kỳ được gọi là Hương cống, đỗ ba kỳ thi gọi là Sinh đồ. Những người đỗ bốn kỳ thi thì được học trong Quốc Tử Giám để thi hội và thi đình. Thi đình diễn ra tại Văn Miếu, đề do nhà vua soạn ra, thí sinh phải làm một bài văn sách để phân tài cao thấp, những người đỗ kỳ thi này được chia làm 3 giáp.

    + Đệ nhất giáp: Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa(tối đa ba người – tam khôi)

    + Đệ nhị giáp: Tiến sỹ xuất thân.

    + Đệ tam giác: Đồng tiến sỹ xuất thân

    Sau khi đỗ được vào học trong Quốc Tử Giám. Bộ máy quản lý của Quốc Tử Giám từ trên xuiống dưới là: Quan tế tử, tư nghiệp, tập thể giáo thụ, trực giảng, trợ giáo và minh kinh báo sỹ. Trong lịch sử có nhiều nho sỹ nổi tiếng phụ trách Quốc Tử Giám: Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh….

    Học sinh ở đây lúc đầu chỉ là hoàng thái tử, hoàng tử, con vua quan quý tộc. Từ thời Lê, được mở rộng ra bao gồm cả những học sinh xuất sắc có nguồn gốc bình dân. Điều này thể hiện tư tưởng tiến bộ của triều đình trọng người tài. Chương trình học chủ yếu dựa vào sách kinh điển của nho giáo: Tứ thư: Trung dung- luận ngữ Mạnh Tử và Ngũ kinh: kinh dịch, thư, lễ, xuân, thu.

    Thưa quý khách! chuíng ta vừa tham quan xong khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Hỵ vọng chuyến đi này sẽ giúp quý khách có thêm nhiều thông tin về nền giáo dục nước nhà từ thời phong kiến xưa. Đã đến lúc chúng ta phải chia tay với Văn Miếu, tôi hy vọng sẽ được gặp quý khách trong những chuyến du lịch tham quan Hà Nội lần sau. Chào thân ái!

    Bình chọn

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ước Mơ Tôi – Cô Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tương Lai
  • Trường Thcs Thpt Duy Tân
  • Tuyển Hướng Dẫn Viên ( Có Thẻ Hdv Quốc Tế) Làm Việc Tại Nha Trang
  • Tiếng Anh Cho Dân Hướng Dẫn Du Lịch
  • Giá Các Gói Cước Fast Connect Mobifone 2022 Cho Sim 3G 4G
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Hàn Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Lớp Tiếng Hàn Dành Cho Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Sở Du Lịch Tỉnh Khánh Hòa
  • Guide Vayne Mùa 10: Cách Chơi Vayne Rừng, Cách Chơi Vayne Mùa 10 A
  • Vayne Mùa 11 : Bảng Ngọc Bổ Trợ, Cách Chơi Và Build Đồ
  • Cách Chơi Vayne Hiệu Quả Nhất, Vayne Mùa 11: Bảng Ngọc Bổ Trợ, Cách Lên Đồ Vaye
  • Nghề nghiệp này có mức lương bao nhiêu – Hướng dẫn viên du lịch Hàn Quốc?

    Tìm việc như thế nào – Hướng dẫn viên du lịch Hàn Quốc?

    Địa điểm nổi tiếng nhất được chọn để tìm việc là: Seoul (thủ đô), Busan, Incheon, Daegu, Daejeon

    Mức lương cho công việc: Hướng dẫn viên du lịch Hàn Quốc – USD 2461

    Lương trung bình Hàn Quốc – USD 2197

    Tiền tệ chính thức: KRW (Won)

    Mức độ ảnh hưởng của kinh nghiệm làm việc tới mức lương:

    Giàu kinh nghiệm: +30%

    Đã có kinh nghiệm: +11%

    Mới vào nghề: -8%

    Đồ thị: (1) Lương – Hướng dẫn viên du lịch (2) Lương trung bình – Hàn Quốc

    Đồ thị: (1) Giàu kinh nghiệm (2) Đã có kinh nghiệm (3) Mới vào nghề

    Lợi ích nhân viên

    Kế hoạch lương hưu: Không thường

    Bảo hiểm y tế: Bình thường

    Các khoá đào tạo nội bộ và từ bên ngoài: Ít khi

    Kế hoạch phát triển sự nghiệp cho nhân viên: Không thường

    Yêu cầu công việc

    Trình độ học vấn: Bằng cao đẳng

    Chứng chỉ chuyên nghiệp: Cần thiết

    Người biết sử dụng máy vi tính: Cần thiết

    Thời gian thử việc: Bình thường

    Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Triều Tiên, Ngôn ngữ ký hiệu

    Kiến thức ngoại ngữ: Cần thiết

    Bằng lái xe: Cần thiết

    Kinh nghiệm làm việc: Mức độ ảnh hưởng tới lương – Vừa

    Loại công việc:

    Việc làm toàn thời gian

    Việc làm bán thời gian (làm part-time)

    Việc làm tạm thời

    Ngành công nghiệp: việc làm vận chuyển

    Giờ làm và ngày nghỉ có lương

    Ngày làm việc trong tuần: Thứ hai – Thứ sáu

    Số giờ làm việc hàng tuần: 40

    Giờ làm thêm (Tăng ca): Bình thường

    Ngày nghỉ phép có lương: 15 (Hợp đồng có thể khác)

    Ngày nghỉ lễ có lương: /

    Giờ ăn trưa: Bình thường

    Thời gian nghỉ trưa: 30 phút

    Thời gian làm việc linh hoạt: Không

    Hãy xem mức lương cho các công việc khác – Hàn Quốc

    Công việc tương tự:

    Nơi bán vé du lịch

    Đầu Bếp Khách Sạn

    Người phiên dịch

    Quản lí khách sạn

    Lương – Hướng dẫn viên du lịch: (1) Hàn Quốc (2) Nhật Bản (3) Singapore

    Lương – Hàn Quốc: (1) Hướng dẫn viên du lịch (2) Nhà khảo cổ học (3) Hoạt náo viên đội lốt thú bông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Pù Luông
  • Học Ngành Du Lịch Và Lữ Hành Tại Singapore
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tự Túc Singapore
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch 8X Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đi Singapore Tự Túc
  • Nghệ Thuật Bán Hàng Bậc Cao
  • Nghề Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Sứ Mệnh Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quan Trọng Ra Sao?
  • Sứ Mệnh Nâng Cao Chất Lượng Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Sứ Mệnh Quan Trọng Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Thuê Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tự Túc Tại Singapore
  • Khóa Học “tiếng Anh Chuyên Ngành Du Lịch”
  • Nên làm nghề nào nếu muốn có thu nhập cao? Với sự phát triển hiện nay, nghề hướng dẫn viên du lịch quốc tế có phải là nghề hái ra tiền?

    Trong giai đoạn hiện nay không khó để nhận ra sự phát triển của các ngành nghề trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Đặc biệt trong năm 2022, ngành du lịch phát triển với mức kỷ lục gần 13 triệu lượt khách. Ngành du lịch đang được coi là ngành kinh tế phát triển mũi nhọn. Vậy có tác động gì đến nghề hướng dẫn viên (HDV) nói chung và hướng dẫn viên quốc tế nói riêng. Tìm hiểu những điều này cùng Cao đẳng du lịch Hà Nội ngay sau đây.

    Nghề hướng dẫn viên du lịch quốc tế có phải nghề hái ra tiền

    Trong nghề HDV được chia cơ bản ra HDV nội địa và HDV quốc tế. So về điều kiện làm việc thì HDV cho khách Tây được cho là văn minh và dễ kiếm tiền hơn cả. Mức thu nhập của HDV quốc tế thường dao động từ 10 – 30 triệu đồng/tháng. Đó là chưa kể tiền tip từ khách Tây. Thông thường một HDV chuyên nghiệp có thể kiếm từ 3 – 5 triệu đồng mỗi ngày. Tùy thuộc và kỹ năng của bản thân mà thu nhập của HDV sẽ cao hơn. Với những con số thu nhập này rất hấp dẫn phải không nào.

    Trung bình lương của HDV dao động khoảng 500.000 đồng/ngày. Tuy nhiên ngoài tiền lương, người HDV còn có thể nhận thêm tiền thưởng (tiền tip) của khách. Hoặc tiền hoa hồng từ chủ cửa hàng khi khách đến các địa điểm mua quà tặng. Lương là cố định tuy nhiên khoản tiền thưởng và hoa hồng mua hàng thì không. Tùy thuộc vào cách ứng xử, mối quan hệ của HDV với khách du lịch và chủ cửa hàng. Nghề HDV cho bạn nhiều cơ hội đi đây đó, mở rộng quan hệ, có thêm kỹ năng sống có lẽ tạo mối quan hệ với khách du lịch hoặc chủ các cửa hàng không thể làm khó được HDV.

    Điều kiện để được tuyển dụng làm HDV quốc tế

    Với “nghề hái ra tiền” như nghề HDV du lịch quốc tế chẳng có bạn nào đam mê mà không muốn làm. Tuy vậy để được làm HDV quốc tế, ứng viên cần phải một số điều kiện nhất định. Những điều kiện đó là:

    • Có thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế do cơ quan có thẩm quyền cấp
    • Thành thạo ít nhất 1 ngoại ngữ
    • Nắm được những kiến thức cơ bản về lịch sử, văn hóa, xã hội của các điểm đến
    • Khả năng thuyết trình và giao tiếp tốt
    • Sức khỏe tốt, nhanh nhẹn, nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cao…

    Hiện nay, trong nghề HDV du lịch đang thiếu số lượng lớn HDV quốc tế. Nhiều đơn vị tuyển dụng sẵn sàng tuyển HDV mới ra trường. Vì thế, để nắm bắt được cơ hội việc làm này ngay từ hôm nay hãy cố gắng trau dồi ngoại ngữ, củng cố kiến thức và kỹ năng cần thiết. Tất nhiên là không thể thiếu Chứng chỉ Hướng dẫn viên Du lịch là điều kiện để được cấp thẻ HDV. Ban đầu có thể mức thu nhập của bạn chưa đủ để “hái ra tiền” nhưng chắc chắn không sớm thì muộn mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng sẽ là của bạn.

    Qua những chia sẻ của Cao đẳng du lịch Hà Nội bạn có thấy nghềhướng dẫn viên du lịch quốc tế là nghề hái ra tiền không. Hơn nữa, tình trạng hiện nay là thiếu HDV quốc tế. Tại sao không nắm bắt cho mình cơ hội việc làm này. Đăng ký học hoặc nhận thông tin tư vấn chi tiết về chương trình học nghề HDV tại:

    Địa chỉ: Phòng 105, Tòa nhà Veispa, Số 220 Đường Láng, Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại tư vấn: 0933 827 837 – 02432 97 96 96

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Hướng Dẫn Viên Du Lịch Miễn Phí Để Học Ngoại Ngữ
  • Quy Định Tuyển Người Nước Ngoài Làm Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Việt Nam
  • Hướng Dẫn Viên Người Nước Ngoài Ngang Nhiên Dẫn Khách Ở Hà Nội
  • Nam Hướng Dẫn Viên Du Lịch Và Những Cái Bẫy Gạ Tình
  • Lời Chia Tay Hướng Dẫn Viên Trẻ Bị Đánh Bom Ở Ai Cập: ‘tiến Ơi, Về Thôi!’
  • Du Học Hàn Quốc Ngành Hướng Dẫn Viên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Seoul Cùng Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tự Túc Hàn Quốc
  • Cấp Chứng Chỉ Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Hải Phòng
  • Cho Thuê Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tại Đà Nắng
  • Học Khối D Hoặc C Để Có Thể Làm Hướng Dẫn Viên Du Lịch Tốt Nhất
  • Khối C Thi Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • 1. Ngành hướng dẫn viên du lịch sẽ học gì?

    Ngành hướng dẫn viên du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói”, một ngành kinh tế mũi nhọn và giàu tiềm năng nhất của thế kỷ 21 trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay. Theo khảo sát của Đại học Georgetown, ngành du lịch luôn nằm trong top 10 ngành nghề có mức thu nhập đáng mơ ước tại Hàn Quốc.

    Hướng dẫn viên du lịch là người sử dụng ngôn ngữ đã lựa chọn để giới thiệu và giải thích cho du khách những địa điểm tham quan như các di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh… Đây cũng là người giúp du khách hiểu biết thêm về điểm đến (điểm tham quan) thông qua những chuyến đi và bài giới thiệu.

    Hướng dẫn viên du lịch là một chuyên ngành học nằm trong ngành Du lịch tổng hợp tại Hàn Quốc. Bạn sẽ được học các chuyên ngành và môn học sau:

    + Quản lý và điều hành du lịch

    + Địa lý du lịch

    + Khoa học quản lý

    + Chuyên ngành quản lý du lịch

    + Quản trị du lịch khách sạn

    + Lữ hành

    + Marketing

    + Ngôn ngữ tiếng Hàn

    + Văn hóa Hàn Quốc

    + Kỹ năng thuyết trình

    + Kỹ năng giao tiếp

    Và còn một số môn học khác.

    2. Du học Hàn Quốc ngành Hướng dẫn viên du lịch sau ra làm gì?

    Cơ hội việc làm của chuyên ngành này rất cao, bạn có thể dễ dàng tìm được một công việc phù hợp và có tiềm năng phát triển cả ở Hàn Quốc và Việt Nam. Đầu ra ngành Hướng dẫn viên du lịch:

    – Làm trong các công ty du lịch như Quản lý tour du lịch, nhân viên tư vấn du lịch..

    – Hướng dẫn viên du lịch theo tour, hợp đồng…

    – Ngoài ra bạn có thể tham gia nghiên cứu khoa học hoặc tham gia giảng dạy về du lịch trong các công ty lữ hành, các công ty tổ chức sự kiện du lịch, các trường cao đẳng – đại học tại Việt Nam, Hàn Quốc; tham gia giám sát các đơn vị kinh doanh du lịch…

    Tại Việt Nam, thực trạng về dịch vụ du lịch thiếu chuyên nghiệp, thiếu sự quản lý vẫn là một hạn chế to lớn. Chính vì vậy, nhân lực cao ngành du lịch luôn luôn thiếu hụt. Nếu được học tập từ một môi trường chất lượng như Hàn Quốc thì bạn sẽ có cơ hội có một vị trí việc làm tốt, mức lương hấp dẫn.

    Ngay cả khi muốn làm việc và sinh sống ngay tại Hàn Quốc, thì với vốn ngôn ngữ cùng trình độ chuyên môn, bạn hoàn toàn có thể tìm được nhiều cơ hội phát triển sự nghiệp.

    3. Tại sao nên học ngành Hướng dẫn viên du lịch tại Hàn Quốc?

    – Hàn Quốc trong những năm gần đây, được biết đến như một quốc gia có nền giáo dục chất lượng hàng đầu thế giới. Các chương trình đào tạo từ hệ cao đẳng đến đại học tại Hàn Quốc đều chú trọng đến việc đào tạo kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng mềm, giúp tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp hiện nay.

    – Đặc biệt, với ngành hướng dẫn viên du lịch, lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng xã hội, giao tiếp, xử lý tình huống rất cao, Hàn Quốc chính là một nơi lý tưởng để học tập. Du học Hàn Quốc ngành du lịch sẽ giúp bạn trang bị đầy đủ hành trang cho tương lai của mình.

    – Du học sinh có nhiều cơ hội tìm việc làm thêm. Đây chính là cơ hội để bạn rèn luyện khả năng tiếng Hàn, học hỏi kinh nghiệm, học tập những nét đẹp văn minh của con người xứ Kim Chi. Các bạn có thể nhận hỗ trợ tour du lịch, làm hướng dẫn viên du lịch cho các đoàn khách Việt Nam (vì khách Việt Nam sang Hàn du lịch cực nhiều) – đây là cơ hội trải nghiệm tuyệt vời cho những bạn sinh viên đi du học Hàn Quốc vừa học vừa làm ngành du lịch.

    4. Các trường đào tạo ngành Hướng dẫn viên du lịch

    Ở Hàn Quốc có rất nhiều trường đại học nổi tiếng đào tạo ngành du lịch. Những trường tiêu biểu:

    Học bổng TOPIK tiến bộ (Kỳ thi năng lực tiếng Hàn) cho Sinh viên đạt TOPIK cao hơn sau mỗi lần thi (Áp dụng cho SV năm thứ 1 và 2).

    Chương trình đại học: 4 năm, khai giảng vào tháng 3 và tháng chúng tôi viên sẽ thường xuyên được đi thực tế tại các địa điểm du lịch nổi tiếng của Hàn Quốc và tập thực hành đi hướng dẫn tour cho các công ty, doanh nghiệp…

    Trường Đại học Kyung hee Hàn Quốc là trường ĐH của các nghệ sĩ K-pop cực nổi tiếng như G-Dragon, Bi Rain… Đại học Kyunghee có chương trình giảng dạy xuyên suốt bằng tiếng Anh dành cho sinh viên trong nước và du học sinh.

    (ẢNH)

    Địa chỉ: 26 Kyungheedae-ro, Hoegi-dong, Dongdaemun-gu, Seoul, Hàn Quốc

    Trang web: https://www.khu.ac.kr/kor/main/index.do

    Điện thoại: +82 2-961-0114

    Học phí: 6.800.000 KRW/ Năm

    Sinh viên mới: Sinh viên có TOPIK 6 ⇒ 100% học phí học kỳ đầu

    Sinh viên năm nhất: Sinh viên đạt TOPIK 5 ⇒ 50% học phí học kỳ đầu

    Tham khảo điều kiện nhận học bổng và phí ký túc xá của trường Đại học Kyunghee theo link: https://duhocsofl.com/dia-diem/truong-dai-hoc-kyung-hee-ngoi-truong-dang-cap-hang-dau-han-quoc-947.html

    4. Điều kiện du học Hàn Quốc ngành du lịch 2022

    Để có thể du học Hàn Quốc ngành du lịch, học sinh sinh viên cần đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:

    Đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc cao đẳng, đại học.

    Có kết quả học tập đạt loại khá trở lêniểm trung bình các môn từ 6.5 trở lên)

    Không quá 5 năm tốt nghiệp cao đẳng, đại học độ tuổi từ 22-26

    chứng chỉ tiếng Anh ( IBT tối thiểu 80, IELTS tối thiểu 5.5, TOEIC tối thiểu 700).

    Sức khỏe tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm

    Không tiền án tiền sự, chưa từng nhập cảnh vào Hàn Quốc.

    Không có người thân cư trú bất hợp pháp tại Hàn

    Ngoài ra muốn học tốt ngành học này người học cần có khả năng tự trau dồi ngoại ngữ tốt đặc biệt là kỹ năng nói, khả năng giao tiếp tốt và cởi mở với mọi người, có trí nhớ tốt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Cấp Lại Thẻ Hướng Dẫn Viên Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Hà Giang Tự Túc 2022
  • Giới Thiệu Về Nghề Hướng Dẫn Viên Du Lịch, Có Nên Học Không
  • Muốn Trở Thành Hướng Dẫn Viên Du Lịch Học Trường Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100